|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 25/4/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Hoạt
Bà Nguyễn Thị Thu Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Hoàng T - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T1 - sinh ngày 17 tháng 8 năm 1984, tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; hộ khẩu thường trú: Số E đường Q, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng, nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Võ Thị Đ; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: Bản án số 149/2021/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/7/2022.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Bản án số 107/2002/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2002 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh khánh Hòa xử phạt 12 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2003, đã chấp hành xong án phí.
- Bản án số 171/2007/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2007 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/11/2007, đã chấp hành xong án phí năm 2007.
- Tại Bản án số 325/2023/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Buộc chấp hành hình phạt chung là 03 năm 04 tháng tù.
- Tại Bản án số 183/2023/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại P, Trại giam T - Cục C - Bộ C1 (Theo Quyết định thi hành án Quyết định tổng hợp hình phạt số 03/2024/QĐ-CA ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận).
Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị hại: Bà Lê Thị Thu T3 - sinh năm 1993; trú tại: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 06 tháng 01 năm 2023, Nguyễn Minh T1 điều khiển xe mô tô biển số 79N1 - 639.37 (do T1 mượn của người tên D chưa rõ lai lịch) đi từ khu vực trung tâm thành phố N đến thành phố C tìm tài sản để trộm cắp.
Đến khoảng 19 giờ 32 phút cùng ngày, T1 đi đến tiệm H1 ở số C Đại lộ H thuộc tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; T1 dựng xe trước cửa tiệm rồi mang theo giỏ xách đi vào bên trong tiệm. T1 đi đến giả vờ nói chị T3 làm cho T1 01 giỏ quà để đi khai trương. Nghe vậy, chị T3 ngồi xuống nền nhà làm giỏ quà. Còn T1 ngồi trên ghế sofa gần đó để đợi. Lúc này, chị T3 lấy túi xách (đang để trên ghế khác gần đó) đặt lên trên bàn quầy tính tiền. T1 thấy có một cọc tiền rơi ở dưới chân quầy tính tiền. Trong lúc chị T3 không để ý, T1 đi đến nhặt cọc tiền bỏ vào túi xách của mình rồi bỏ đi. Sau đó, T1 kiểm tra thì thấy số tiền lấy được là 2.000.000 đồng (gồm những tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng).
Vật chứng vụ án: 01 (một) dao rọc giấy, cán màu xanh - xám.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo và bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự,
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định:
Vào khoảng 19 giờ 32 phút ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại tiệm H1 tại số C đại lộ H, tổ dân phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh H, bị cáo Nguyễn Minh T1 đã có hành vi lén lút trộm cắp của bà Lê Thị Thu T3 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Hành vi của Nguyễn Minh T1 đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát thành phố C truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh T1 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, xã hội ở địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý tiếp tục thực hiện hành vi. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà lại phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo, sớm hòa nhập cộng đồng làm công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: Bị cáo đang chấp hành án của nhiều bản án nên hình phạt được tổng hợp theo Điều 56, 104 Bộ luật hình sự.
[6] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có thu giữ 01 (một) dao rọc giấy, cán màu xanh - xám. Xét thấy không đủ cơ sở để xác định con dao là vật chứng của vụ án, con dao không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị Thu T3 không yêu cầu bị cáo T1 phải bồi thường thiệt hại nên Tòa án không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, 104 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 293, 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù.
- Tổng hợp với hình phạt: 03 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản số 325/2023/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 183/2023/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Tổng hợp hình phạt phải chấp hành chung của 03 bản án là 06 (Sáu) năm 07 (Bảy) tháng tù.
- - Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính tù ngày 13 tháng 6 năm 2023.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) dao rọc giấy, cán màu xanh - xám, kích thước (18x04x02) cm theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh ngày 20 tháng 02 năm 2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị Thu T3 không yêu cầu bị cáo T1 phải bồi thường thiệt hại nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Nga |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T-TCTS
