Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 42/2024/HSST

Ngày: 25/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Loan.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Trần Ngọc Chiến;
    2. Ông Nguyễn Trọng Quý;

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Thắng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 28/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn D (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam. Sinh ngày 21/8/1985, tại huyện G, tỉnh Nam Định. Nơi thường trú: xóm C, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nơi ở hiện nay: tổ A, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa: lớp 12/12. Con ông: Vũ Văn V (đã chết). Con bà: Vũ Thị M. Có vợ là Lê Thị H (đã ly hôn), có một con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 29/02/2016 bị TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 28/02/2017 chấp hành xong bản án. Ngày 23/5/2017 bị TAND huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, ngày 29/02/2020 chấp hành xong bản án. Bị bắt ngày 18/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

  • - Ông Vũ Như S, sinh 1950 (nơi cư trú: tổ A, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh).
  • - Ông Vũ Ngọc N sinh 1986 (nơi cư trú: tổ H, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh).

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vũ Văn D nghiện ma tuý từ năm 2013. Khoảng 14h20 phút ngày 18/12/2023, D đi đến khu vực đường gần khách sạn H2 thuộc phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh tìm người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch địa

chỉ do được bạn nghiện giới thiệu) để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây D mua của H1 một túi ma tuý giá 300.000đồng, H1 cầm tiền đi được khoảng 10 phút quay lại đưa cho D 01 gói giấy bên trong chứa ma tuý Heroine. D cất vào túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi đi bộ đến khu vực tổ B, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh tìm chỗ để sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 18/12/2023.

Vật chứng thu giữ: trong túi quần phía sau bên trái D đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong chứa 0,204gam chất bột màu trắng và một chiếc điện thoại N1 màu đen lắp sim số 0976.508.144.

Tại Kết luận giám định số 1788/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: chất bột màu trắng trong một gói giấy bạc thu giữ của Vũ Văn D gửi giám định là ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,204 gam, hoàn lại sau giám định 0,15gam.

Người chứng kiến là ông Vũ Như S và ông Vũ Ngọc N có lời khai phù hợp với nội dung vụ án, chứng kiến Công an kiểm tra bắt quả tang Vũ Văn D tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng và niêm phong ma túy theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số 31/CT-VKSCP ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn D từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/12/2023. Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo điện thoại di động N1 kèm một sim. Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án là nguồn chứng cứ đối với 01 đĩa DVD-R ghi âm việc lấy lời khai của bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì về Kết luận giám định số 1788/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả và bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 15giờ 00 phút ngày 18/12/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, Kết luận giám định số 1788/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q và phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Vũ Như S và ông Vũ Ngọc N, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hồi 14 giờ 45 phút ngày 18/12/2023, tại tổ B, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,204 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm ...

a)

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của ma túy và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy. Nhân thân bị cáo đã có hai tiền án, trong đó có một tiền án liên quan đến loại tội phạm về ma tuý, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn đi vào con đường phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tuy nhiên cũng xét: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma túy, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 1788/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành.

Trả cho bị cáo: chiếc điện thoại di động N1 màu đen kèm một sim vì bị cáo chỉ dùng để liên lạc cá nhân và không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án là nguồn chứng cứ đối với 01 đĩa DVD-R ghi âm việc lấy lời khai của bị cáo.

[6] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[8] Đối với người đàn ông tên H1 theo D khai đã bán ma túy cho D, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập.

[9] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt chính và hình phạt bổ sung đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà nên cơ bản được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Xử phạt: bị cáo Vũ Văn D 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/12/2023.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 1788/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia kèm một sim (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 76/BB-THA ngày 09/4/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cẩm Phả).

Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án là nguồn chứng cứ đối với 01 đĩa DVD-R ghi âm việc lấy lời khai của bị cáo.

Bị cáo Vũ Văn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tp. Cẩm Phả;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tp. C;
  • - Cơ quan THAHS Công an tp. C;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Q;
  • - Chi cục THADS tp. C
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HSST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 42/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Văn Dũng phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger