|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 24-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Vũ Văn Hoàn - Nghề nghiệp: Hưu trí
- 2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thuý Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Ông Ngô Lê Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 21/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lường Đức D; giới tính: Nam; sinh ngày 05 tháng 03 năm 2007 (khi phạm tội 17 tuổi, 26 ngày); nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm K, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; con ông Lường Văn Q và bà: Dương Thị K; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Lường Văn Q, sinh năm 1968, bà Dương Thị K, sinh năm 1975 (Là bố mẹ đẻ) (có mặt)
Địa chỉ: xóm K, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Khuông Thanh Đ – Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý theo quyết định cử của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)
- Họ và tên: Nguyễn Hoàng Anh T; giới tính: Nam; sinh ngày 02 tháng 02 năm 2007 (khi phạm tội 17 tuổi, 01 tháng, 28 ngày); nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp:Học sinh; trình độ học vấn:
10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Tất T1 và bà Hoàng Thị P; Vợ, con:chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Tất T1, sinh năm 1983, bà Hoàng Thị P, sinh năm 1986 (Là bố mẹ đẻ) (có mặt)
Địa chỉ: xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vi Khánh P1 – Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý theo quyết định cử của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)
- Bị hại: Anh Lăng Tuấn A, sinh năm 1998 (Có mặt)
Địa chỉ: xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Bà Dương Thị K, sinh năm 1973
Địa chỉ: xóm K, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
- Người tham gia tố tụng khác:
- + Người làm chứng: 1.Chị Nguyễn Thương T2, sinh năm 2007(Vắng mặt)
ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh
Chỗ ở hiện tại: xóm C, xã C, huyện P, Thái Nguyên.
Người giám hộ: Ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1962 (ông ngoại)
Địa chỉ: xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- 2. Anh Triệu Văn T4, sinh năm 2005 (Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm K, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
- 3. Anh Hứa Văn H, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm K, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 ngày 31/3/20024, Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T ngồi chơi tại nhà D tại xóm K, xã V, huyện Đ thì D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên rủ T: “Tối nay lấy xe đi”, T đồng ý. Đến 17 giờ ngày cùng ngày, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, BKS: 20K1 005.21 (Xe Airblade) chở theo T đến nhà anh Hoàng Văn H1 (Sinh năm 1999, trú tại xóm K, xã V, huyện Đ) để ăn cưới. Khi đến đám cưới, D để xe mô tô trong nhà ông Hoàng Văn T5 (Sinh năm 1976, trú tại xóm K, xã V, huyện Đ), cách nhà anh H1 khoảng 20m rồi cùng T đến nhà anh H1 để dự đám cưới. Khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi ăn cỗ xong, D và T đi bộ ra sân nhà ông T5. D quan sát thấy có nhiều người gửi xe mô tô để ăn cưới nhưng không có người trông coi. D quan sát thấy 01 chiếc xe mô
tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 20B2 – 399.11 (Xe W) để trong sân bê tông của gia đình ông T5 nên D chỉ và bảo T lấy. D và T cùng đi đến vị trí chiếc xe mô tô trên, khi thấy T đi đến sát vị trí chiếc xe mô tô thì D đứng cách vị trí của T khoảng 2m để cảnh giới cho T. T lấy được xe và dắt xe đi ra hướng đường liên xã P, huyện P - xã V, huyện Đ trước. D đi đón bạn là Nguyễn Thương T2 (Sinh ngày 29/3/2007, trú tại xóm C, xã C, huyện P, khi đó cũng ở trong đám cưới anh H1), D điều khiển xe mô tô chở T2 phía sau dùng chân đẩy xe cho T đi về hướng xã P, huyện P, cách vị trí đầu đường rẽ vào nhà ông T5 khoảng 300m thì dừng lại, D nói T2 ở lại chờ. D lấy 01 tua vít (Có phần tay cầm màu đen, dài khoảng 20-25cm), T và D đẩy xe lên đồi cách chỗ T2 đứng khoảng 300m, rồi dùng tua-vít tháo 02 ốc ở phần mặt nạ phía trước xe mô tô Wave, D sử dụng 01 đoạn dây điện dài khoảng 05cm (D mang đi từ nhà) để đấu nối nguồn điện, khi thấy xe mô tô có điện, D ngồi lên xe và đề nổ máy điều khiển xe Wave vừa trộm cắp được đi về phòng trọ do D và T thuê tại xóm Đ, xã S, thành phố T, T điều khiển xe Airblade chở T2 về nhà, sau đó quay lại phòng trọ. Tại phòng trọ, D dùng tay cậy yên xe mô tô Wave kiểm tra tài sản thì thấy có 01 ví màu đen, bên trong có 02 căn cước công dân (CCCD), 02 Giấy phép lái xe mô tô mang tên Lăng Tuấn A và Triệu Thu H2, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Lăng Tuấn A. Khi T về đến phòng trọ, D bảo T điều khiển xe mô tô chở D đi đến khu vực giữa cầu C, D xuống xe đứng trên cầu vứt 01 ví, 02 CCCD và 02 GPLX xuống sông, sau đó cả hai về phòng trọ ngủ. Khoảng 12 giờ 30 ngày 01/4/2024, D dùng tua vít tháo ốc và 02 bên yếm xe của chiếc xe mô tô Honda Wave, lắp BKS: 20G1 – 375.43 (Dương mượn của 01 nam thanh niên tên T6, D không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ quen qua Facebook).
Ngày 01/4/2024, anh Lăng Tuấn A (Sinh năm: 1998, trú tại xóm T, xã V, huyện Đ) là chủ sở hữu chiếc xe mô tô Wave đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Công an để giải quyết vụ việc.
Tại bản kết luận định giá số 05/KL- HĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Xe mô tô BKS: 20B2 – 399.11 nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: Đen bạc, xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký ngày 26/01/2021 có giá trị là 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng)
Tại Cơ quan điều tra, Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu đen bạc, 01 biển kiểm soát 20B2 – 399.11, biển cũ đã qua sử dụng, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lăng Tuấn A, đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
+ 01 Biển kiểm soát 20G1 – 375.45, đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A bên trong có 01 tua-vít 4 cạnh dài 14cm, tay cầm bằng nhựa màu đen, đã qua sử dụng. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản theo quy định chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Đại điện 2 gia đình bị cáo và bị hại đã thống nhất thoả thuận bồi thường xong số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSĐH, ngày 15/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Trộm cắp tài sản “ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Các bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên bản Cáo trạng số 38/CT-VKSĐH, ngày 15/6/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T mỗi bị cáo từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” và ấn định thời gian thử thách theo quy định; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; về trách nhiệm dân sự: các bên đã thoả thuận xong nên không xem xét; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng khác không có giá trị, trả lại 01 tua vit cho bà Dương Thị K; miễn án phí cho các bị cáo.
Trong phần tranh luận các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa của bị cáo D và bị cáo T trình bày: Thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật truy tố bị cáo; Thống nhất với việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật, các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo. Bị cáo là người phạm tội từ 16 đến dưới 18 tuổi nên nhận thức còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị cho các bị cáo mức án thấp nhất, cho các bị cáo cải tạo tại địa phương để tiếp tục được đi học. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho các bị cáo do các bị cáo chưa lao động không có thu nhập, sống phụ thuộc vào gia đình là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, xin được cải tạo tại địa phương để tiếp tục được đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ, ngày 31/3/2024, tại xóm K, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 20B2 – 399.11 của anh Lăng Tuấn A, giá trị tài sản là 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng)
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Bản Cáo trạng số 38/CT-VKSĐH, ngày 15/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảmnhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội với lôi cố ý, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm tới quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội. Đây là vụ án đồng phạm nhưng tính chất giản đơn, xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án này thì bị cáo Lường Đức D là người khởi xướng, rủ rê và tích cực thực hiện tội phạm, bị cáo D phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn trong vụ án. Bị cáo T tham gia thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đốivới các bị cáo Hội đồng xét xử thấy: các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do các bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo có tuổi đời còn trẻ, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bồng bột, nhất thời phạm tội, bản thân các bị cáo hiện là học sinh đang theo học hệ giáo dục thường xuyên tại Trường cao đẳng T7, phân viện đào tạo V, nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, và lời thỉnh cầu của các bị cáo, cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo, tạo điều kiện một lần để các bị cáo được tiếp tục đi học, có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, để trở thành người có ích cho xã hội.
Khi phạm tội bị cáo D mới 17 tuổi 26 ngày, bị cáo T mới 17 tuổi 1 tháng 28 ngày nên áp dụng Điều 90, 91 bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của các bị cáo, các bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng: 01 Biển kiểm soát 20G1 – 375.45, đã qua sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ; 01 tua-vít 4 cạnh dài 14cm, tay cầm bằng nhựa màu đen, đã qua sử dụng là của bà K, nên cần trả lại cho bà K quản lý, sử dụng.
[7] Về án phí: Các bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[9]Các vấn đề khác: - Trong vụ án này, các bị cáo sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, BKS: 20K1 – 005.21 của bà K để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên bà K không biết, không liên quan đến việc T và D trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với Nguyễn Thương T2, không được bàn bạc và không biết việc T và D trộm cắp tài sản, sau khi biết các bị cáo trộm cắp T2 đã đến Cơ quan Công an để khai báo sự việc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với người đàn ông tên T6, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa thấy phù hợp, cần chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Lường Đức D và Nguyễn Hoàng A1 Tuân phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Về hình phạt chính:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Lường Đức D9 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18( Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án 24/7/2024.
-
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Hoàng Anh T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 ( Mười hai tháng) tháng kể từ ngày tuyên án 24/7/2024.
Giao các bị cáo Lường Đức D và Nguyễn Hoàng Anh T cho UBND xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: không xem xét
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 Biển kiểm soát 20G1 – 375.45, biển cũ đã qua sử dụng;
- - Trả lại cho bà Dương Thị K 01 tô vít 4 cạnh dài 14cm, tay cầm được làm bằng nhựa màu đen, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ)
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí cho các bị cáo
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh |
Bị hại là chị H3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Đức D và đồng bọn trộm cắp tài sản
