Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 42/2024/HS-ST.

Ngày: 24/5/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguỵ Thế Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1, Ông Nguyễn Khắc Vũ – Nguyên là giáo viên cấp II-III huyện Ea H'leo.
  • 2, Bà Mai Thị Mỵ - Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam huyện Ea H'leo.

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên toà: Ông Trương Công Luật – Kiểm sát viên.

Ngày 24/5/2024 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/HSST-QĐ ngày 26/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Hải Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 31/03/2005, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình V, sinh năm 1977 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1980; gia đình bị cáo có 02 anh em; bị cáo là con thứ hai.
  2. Tiền án; Tiền sự: Không;

    Bị cáo Bùi Hải Đ đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Sỹ Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/01/2007, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ H1, sinh năm 1976 và bà Lê Thị L, sinh năm 1981; gia đình bị cáo có 02 anh em; bị cáo là con đầu.
  4. Tiền án; tiền sự: Không;

    Bị cáo Nguyễn Sỹ Q đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Võ Hồng V1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 29/8/2007, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hồng V2, sinh năm 1985 (đã chết) và bà Bùi Thị Tường V3, sinh năm 1988; gia đình bị cáo có 03 anh em; bị cáo là con đầu.
  6. Tiền án; tiền sự: Không;

    Bị cáo Võ Hồng V1 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Sỹ Q: Ông Nguyễn Sỹ H1, sinh năm 1976 là bố của bị cáo; trú tại: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Võ Hồng V1: Bà Bùi Thị Tường V3, sinh năm 1988 là mẹ của bị cáo; trú tại: Buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Sỹ Q: Bà H ML Mlô – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: Số C L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Võ Hồng V1: Bà Trần Thị Phương L1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: Số C L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

- Bị hại:

  • Ông Huỳnh Quang Đ1, sinh năm 1984; trú tại: TDP I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Ông Lê Văn T, sinh năm 1967; trú tại: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1969; trú tại: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
  • Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1985; trú tại: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Ông Võ Kim S, sinh năm 1981; trú tại: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Trần Ngọc T1, sinh ngày 20/11/2007; trú tại: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
  • Người đại diện hợp pháp cho anh T1 là: Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1979 là bố của anh T1; trú tại: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

  • Anh Lưu Bá H3, sinh ngày 02/8/2008; trú tại: TDP A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
  • Người đại diện hợp pháp cho anh H3 là: Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1986 là mẹ của anh H3; trú tại: TDP A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

  • Bà Lê Thị L, sinh năm 1981; trú tại: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
  • Ông Bùi Đình V, sinh năm 1977; trú tại: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
  • Bà Bùi Thị Tường V3, sinh năm 1988; trú tại: Buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)
  • Chị Dương Lê Ngân H4, sinh năm 2001; trú tại: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
  • Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1995; trú tại: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông Lê Văn N1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn G, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu năm 2023, Nguyễn Sỹ Q đi đến đập T thuộc Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk chơi thì thấy người dân có để nhiều mô tơ điện ở bên bờ đập để tưới cây cà phê, cây tiêu. Đến khoảng 16 giờ ngày 13/10/2023, khi Q đang ở phòng trọ của mình tại thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y2S, gắn sim số 0833521147 của Q gọi điện thoại đến số 0825.809.xxx gắn trong điện thoại nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh của Lưu Bá H3, sinh ngày 02/8/2008, nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk rủ H3 đi trộm cắp tài sản thì H3 đồng ý. Q hẹn H3 gặp nhau tại quán cà phê ở thị trấn E nói chuyện. Sau đó, H3 rủ Trần Ngọc T1, sinh ngày 20/11/2007, nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk cùng đi uống cà phê, trong lúc ngồi uống cà phê thì Q rủ T1 đi trộm cắp tài sản thì T1 đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Q, H3 và T1 đi về phòng trọ của Q. Lúc này, Q sử dụng điện thoại di động gọi đến số 0899570223 gắn trong điện thoại nhãn hiệu Vivo Y22S của Võ Hồng V1 rủ V1 đi trộm cắp tài sản thì V1 đồng ý. Sau đó Q chuẩn bị 02 cái cờ lê 19; 01 cái tua vít; 01 cái thanh sắt hình trụ, đường kính khoảng 1,5cm dài khoảng 30 cm; 01 cái búa; 01 cái cưa sắt; 01 sợi dây cao su dài khoảng 1,5 mét; 01 cái kìm nhựa màu đỏ; 01 cái mỏ lết; 01 cái kìm bấm, cán bằng nhựa màu xanh rồi bỏ tất cả vào 01 túi vải màu xanh và bỏ trước xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát 47D1-627.83. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô nêu trên chở T1 và H3 đi đến nhà của V1 tại Buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; tại đây Q, H3, T1, V1 thống nhất đi đến đập Thủy T3 thuộc xã E để trộm mô tơ điện, Q và V1 tháo biển số xe của Q và V1 ra cất tại nhà của V1. Đến khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 14/10/2023, Q điều khiển xe mô tô (đã tháo biển số) chở H3, V1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát 47D1-179.41 (đã tháo biển) chở T1 đi đến bờ đập Thủy Tùng thuộc Buôn Đ, xã E thì thấy trên bờ đập có hai cái mô tơ điện gắn trên 02 xe kéo của ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1985, nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk và ông Võ Kim S, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (để cách nhau khoảng 10 mét) nhưng không có ai trông coi. Lúc này, Q và V1 cất xe mô tô ở một vườn cà phê gần đó rồi Q, H3, T1 và V1 đi vào chỗ để 02 mô tơ nêu trên, Q đưa điện thoại di động cho V1, để V1 sử dụng đèn pin của điện thoại rọi cho H3 dùng cờ lê 19 tháo ốc tại chân của mô tơ điện ra khỏi xe kéo, Q và T1 dùng cưa sắt cưa xích khóa mô tơ điện ( loại: Mô tơ điện 3 pha, 15Hp, 11KW, màu xanh), sau khi tháo được mô tơ của ông Huỳnh Tấn P ra thì Q, H3, V1, T1 cùng nhau khiêng mô tơ này bỏ lên lề đường bê tông và tiếp tục đi đến nơi để mô tơ của ông Võ Kim S. V1 tiếp tục sử dụng đèn pin điện thoại rọi cho H3 dùng cờ lê 19 tháo lỏng ốc tại chân của mô tơ điện ra (loại mô tơ Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 15KW, màu xám), còn Q và T1 dùng cưa sắt cưa xích bảo vệ mô tơ điện. Sau khi cưa đứt xích sắt thì tất cả đẩy xe kéo gắn mô tơ lên lề đường bê tông rồi cùng nhau khiêng cái mô tơ lấy trộm được của ông P bỏ lên phía sau yên xe của Q. Khi Q ngồi lên xe chuẩn bị điều khiển xe mô tô chở H3 ngồi sau ôm mô tơ thì bị người dân phát hiện và tri hô nên Q điều khiển xe chở H3 bỏ chạy trước, khi chạy đi được khoảng 01 km thì H3 ngồi sau ném mô tơ xuống đường rồi tiếp tục chạy được khoảng 70 mét thì xe bị ngã, lúc này Q và H3 bỏ xe lại và bỏ chạy. V1 và T1 cũng bỏ mô tơ còn lại trộm của ông S1 ở đường và điều khiển xe mô tô bỏ chạy về hướng nghĩa địa Buôn Đ, xã E. Khi đi được khoảng 70 mét thì bị ngã xe nên V1 và T1 bỏ xe lại chạy thoát.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận: 01 Mô tơ điện 3 pha, 15Hp, 11KW, màu xanh có giá trị 3.200.000 đồng; 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 15KW, màu xám gắn với 01 khung kéo bằng kim loại có gắn 02 bánh xe cao su có giá trị 4.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.200.000 đồng.

Ngoài vụ trộm cắp tài sản nêu trên thì Nguyễn Sỹ Q, Trần Ngọc T1, Lưu Bá H3 và Bùi Hải Đ còn thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn xã E và xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Cụ thể:

Vụ thứ nhất:

Vào khoảng đầu tháng 10/2023, Bùi Hải Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đi đến nhà trọ của Q tại Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk rủ Q cùng đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thì Q đồng ý. Sau đó, Đ sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung J7, gắn sim số 0383568149 gọi điện thoại đến số 0825.809.xxx gắn trong điện thoại nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh của Lưu Bá H3 rủ H3 đi trộm cắp tài sản cùng với Q, Đ thì H3 đồng ý và thống nhất hẹn gặp nhau tại Q thuộc thị trấn E. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày Đ điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu xanh đen, biển kiểm soát 47N1-2665 chở Q đến Quảng trường 3/4 gặp H3 và T1. Tại đây, Đ rủ T1 đi trộm cắp tài sản cùng thì T1 đồng ý. Sau đó, Q, H3, T1 và Đ đi về phòng trọ của Q, lúc này Q chuẩn bị 01 thanh sắt hình trụ tròn đường kính 1,5cm dài 30cm, 02 cờ lê, 01 mỏ lết, 01 cái kìm bỏ vào 01 túi vải màu xanh rồi chỉ đường cho Đ điều khiển xe mô tô chở Q còn T1 chở H3 đi đến nhà rẫy của ông Huỳnh Quang Đ1 tại Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, Q, T1, H3 dùng thanh sắt mang theo thay nhau cạy phá khóa cửa sắt nhà rẫy của ông Đ1, lấy trộm 01 mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI gắn trên xe kéo rồi cùng nhau đẩy xe kéo có gắn mô tơ vừa lấy trộm được lên chỗ để xe mô tô và cột tay cầm của xe kéo vào phía sau xe mô tô của Đ. Đ điều khiển xe mô tô chở Q kéo theo xe kéo có gắn chiếc mô tơ, còn T1 chở H3 đi về Tiệm điện cơ Hữu Nghị, tại: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk do anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1995, nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E làm chủ. Q một mình đi vào tiệm điện cơ bán cho anh N được số tiền 1.200.000 đồng. Sau đó xin thêm số tiền 100.000 đồng thì N đồng ý. Số tiền này Q, T1, H3, Đ chia nhau mỗi người được số tiền 300.000 đồng số tiền còn lại thì cùng nhau tiêu xài. Số tiền được chia hiện Q, T1, H3, Đ đã tiêu xài hết.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận: 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 11KW, 15Hp, màu xám gắn với 01 dàn khung sắt để gắn mô tơ có giá trị 3.500.000 đồng.

Vụ thứ hai:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút một ngày đầu tháng 10/2023 (ngày không xác định rõ) Q, H3, Đ và T1 ngồi chơi tại phòng trọ của Q tại Thôn E, xã E, huyện E thì Q rủ T1, H3, Đ đi trộm cắp tài sản thì tất cả đồng ý. Q lấy tuốc nơ vít, cờ lê, kéo, kìm bỏ vào 01 túi vải màu xanh và chỉ đường cho Đ điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu xanh đen, biển kiểm soát 47N1-2665 chở Q, còn H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYMEX50, màu xanh trắng, biển kiểm soát 47AB-214.91 của T1 chở T1 đi đến rẫy cà phê của ông Lê Văn T, sinh năm 1967, thuộc Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, Q, H3, Đ và T1 đi đến giếng nước trong rẫy ông T tháo nắp giếng ra rồi kéo bơm 3 pha (01 Bơm nước 3 pha, 5Hp, 3,7KW, màu xám bạc) dưới giếng ông T lên. Khi kéo được bơm lên thì Q dùng kéo mang theo cắt dây cước và dây điện, tháo cùm gắn ống với bơm ra. Q, H3, Đ và T1 thay nhau khiêng bơm nước vừa trộm được lên chỗ để xe mô tô rồi T1 chở H3 ngồi sau ôm bơm nước, còn Đ chở Q đi về tiệm điện cơ của anh Nguyễn Xuân N. H3 một mình đi vào tiệm điện cơ bán cho anh N được số tiền 600.000 đồng. Số tiền này Q, H3, Đ và T1 chia nhau mỗi người được số tiền 150.000 đồng và đã tiêu xài hết.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận: 01 Bơm nước 3 pha, 5Hp, 3,7KW, màu xám bạc đấu nối với 12 mét dây điện 3 pha màu xám có giá trị 1.900.000 đồng.

Vụ thứ ba:

Vào khoảng 22 giờ, ngày 12/10/2023 Q rủ H3, Đ đi trộm cắp tài sản thì H3 và Đ đồng ý. Sau đó, Q lấy 01 thanh sắt hình trụ tròn đường kính 1,5cm dài 30cm, 02 cờ lê, 01 mỏ lết, 01 cái kìm, 01 cái kéo bỏ vào 01 túi vải màu xanh rồi Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển số 47D1-627.83 chở H3, Đ một mình điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu xanh đen, biển kiểm soát 47N1-2665 đi đến nhà xây để bơm nước của ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1969, thuộc Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, Q và Đ thay nhau dùng cây sắt mang theo phá cửa sắt nhà xây để bơm nước của ông H2 và lấy trộm 01 bơm nước nhãn hiệu Văn Thể 4, sau đó đem về tiệm điện cơ của anh Nguyễn Xuân N. H3 một mình đi vào tiệm điện cơ bán cho anh N được số tiền 300.000 đồng và xin thêm số tiền 90.000 đồng. Số tiền này Q, H3, Đ chia nhau mỗi người được 100.000 đồng, số tiền còn lại cùng nhau tiêu xài hết.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận: 01 Bơm nước nhãn hiệu Văn Thể 4, màu trắng bạc có giá trị 1.000.000 đồng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS, ngày 19/3/2024 truy tố các bị cáo Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q và Võ Hồng V1 về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q và Võ Hồng V1, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Hải Đ mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ Q mức án từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, Điều 100; Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Hồng V1 mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.

Đối với Trần Ngọc T1 và Lưu Bá H3 có hành vi trộm cắp 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 11KW, 15Hp, màu xám gắn với 01 dàn khung sắt để gắn mô tơ của ông Huỳnh Quang Đ1 vào đầu tháng 10/2023, tài sản có trị giá là 3.500.000 đồng; 01 Bơm nước 3 pha, 5Hp, 3,7KW, màu xám bạc, đấu nối với 12 mét dây điện 3 pha màu xám của ông Lê Văn T vào đầu tháng 10/2023, tài sản có trị giá là 1.900.000 đồng; 01 Mô tơ điện 3 pha, 15Hp, 11KW, màu xanh; 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 15KW, màu xám gắn với 01 khung kéo bằng kim loại có gắn 02 bánh xe cao su của ông Huỳnh Tấn P và ông Võ Kim S2 vào ngày 14/10/203, tài sản có trị giá là 7.200.000 đồng. Ngoài ra Lưu Bá H3 còn tham gia trộm cắp 01 Bơm nước nhãn hiệu Văn Thể 4 của ông Nguyễn Văn H2, vào ngày 12/10/2023 tài sản có trị giá là 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội vào lần gần nhất (ngày 14/10/2024) Trần Ngọc T1 đang 15 tuổi 10 tháng 24 ngày, Lưu Bá H3 đang 15 tuổi 02 tháng 12 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, ngày 29 tháng 02 năm 2024, Công an huyện E đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với Trần Ngọc T1 và Lưu Bá H3 về hành vi trộm cắp tài sản quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15, Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với Nguyễn Xuân N khi mua bơm nước và mô tơ điện thì không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý theo quy định.

Đối với bà Lê Thị L; Bùi Thị Tường V3; ông Bùi Đình V; bà Dương Lê Ngân H4 khi cho các bị cáo mượn xe mô tô nhưng không biết việc các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do đó không có căn cứ để xử lý theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trao trả: 01 Mô tơ điện 3 pha, 15Hp, 11KW, màu xanh cho ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1984, nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 15KW, màu xám gắn với 01 khung kéo bằng kim loại có gắn 02 bánh xe cao su cho ông Võ Kim S, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 11KW, 15Hp, màu xám gắn với 01 dàn khung sắt để gắn mô tơ; Bơm nước 3 pha, 5Hp, 3,7KW, màu xám bạc đấu nối với 12 mét dây điện 3 pha màu xám; Bơm nước nhãn hiệu Văn Thể 4, màu trắng bạc mà Nguyễn Sỹ Q và Bùi Hải Đ đã bán cho anh Nguyễn Xuân N. Sau đó, anh N đã bán cho người khách (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nên không có cơ sở để truy tìm, thu giữ.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y2S, gắn sim số 0833521147 Nguyễn Sỹ Q khai nhận vào ngày 14/10/2023, khi bị người dân phát hiện truy đuổi bỏ chạy thì Q đã làm rơi nhưng không nhớ ở vị trí nào nên không có cơ sở để truy tìm, thu giữ.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y22S, gắn sim số 0899570223 Võ Hồng V1 khai nhận vào ngày 14/10/2023, khi bị người dân phát hiện truy đuổi bỏ chạy thì V1 đã làm rơi nhưng không nhớ ở vị trí nào nên không có cơ sở để truy tìm, thu giữ.

Đối với 02 cái cờ lê 19; 01 cái tua vít; 01cái thanh sắt, hình trụ đường kính 1,5cm dài 30 cm; 01 cái búa; 01 cái cưa sắt; 01 sợi dây cao su dài khoảng 1,5 mét; 01 cái kìm nhựa màu đỏ; 01 cái mỏ lết; 01 cái kìm bấm; 01 túi vải màu xanh Nguyễn Sỹ Q khai nhận vào ngày 14/10/2023, khi bị người dân phát hiện truy đuổi Q đã vứt bỏ trên đường chạy trốn nhưng không nhớ ở vị trí nào nên không có cơ sở để truy tìm, thu giữ.

Ngày 29/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện E trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đỏ đen, Số máy: 5C63733043; 01 Biển kiểm soát 47D1-179.41 cho bà Bùi Thị Tường V3, sinh năm 1988, nơi cư trú: Buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng đen, số máy: 5C63723561, 01 Biển kiểm soát 47D1-627.83 cho bà Lê Thị L, sinh năm 1981, nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 02 chiếc điện thoại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu xanh, số IMEI 1: 350078310214996, số IMEI 2: 350078312214994, gắn sim số 0825809705; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu vàng, gắn sim số 0383568149 là phương tiện mà Đ, H3 dùng để liên lạc thực hiện việc phạm tội, do đó cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Gia đình Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q, Trần Ngọc T1 và Lưu Bá H3 đã bồi thường cho ông Huỳnh Quang Đ1; Lê Văn T; Nguyễn Văn H2 tổng số tiền là 9.050.000 đồng, ông Đ1, ông T, ông H2 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
  • Ông Huỳnh Tấn P và ông Võ Kim S không yêu cầu phải bồi thường gì về dân sự nên không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Sỹ Q là bà H Mlen Mlô trình bày quan điểm:

Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh truy tố. Tuy nhiên, trong vụ án này cũng cần xem xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo tuổi đời còn quá trẻ, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện khai báo các hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại để khắc phục hậu quả và được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo Q có ông bà là người có công với cách mạng nên bà H Mlen M đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn so với mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Võ Hồng V1 là Bà Trần Thị Phương L1 trình bày quan điểm:

Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh truy tố. Tuy nhiên, trong vụ án này cũng cần xem xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo mất sớm, mẹ bị cáo một mình chăm sóc cho hai con nhỏ nên bà L1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101 ; Điều 36 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn so với mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ai ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, phù hợp với lời khai của bị hại tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập lưu tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 10/2023 đến ngày 14/10/2023, Nguyễn Sỹ Q, Bùi Hải Đ và Võ Hồng V1 đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của nhiều người khác nhau trên địa bàn xã E và xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Trong đó: Bị cáo Bùi Hải Đ thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.400.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Sỹ Q thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.600.000 đồng; Bị cáo Võ Hồng V1 thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 7.200.000 đồng.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo truy tố các bị cáo Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q và Võ Hồng V1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức điều chỉnh mọi hoạt động bản thân, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản chất lười lao động lại mong muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân và xem thường pháp luật nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi, lợi dụng sự sơ hở của các chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò khi thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.

[2.1]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Sỹ Q và Bùi Hải Đ đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

Bị cáo Võ Hồng V1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo Nguyễn Sỹ Q có ông bà ngoại và bà nội là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[2.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong vụ án này bị cáo Bùi Hải Đ thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Sỹ Q thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ rủ rê bị cáo Q là người dưới 18 tuổi cùng thực hiện trộm cắp tài sản. Bị cáo Q rủ rê bị cáo V1 là người dưới 18 tuổi cùng thực hiện trộm cắp tài sản nên bị cáo Đ và Q phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bởi các bị cáo đều là người trực tiếp thực hành, trước và trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự phân rõ vai trò của từng đối tượng. Trong vụ án này có bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần phân tích, đánh giá để áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo.

Đối với bị cáo Q thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.600.000 đồng nên bị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với bị cáo Đ và V1 là phù hợp. Tuy nhiên bị cáo Q là người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội) nên bị cáo được áp dụng chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Đ thực hiện 3 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.400.000 đồng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã trưởng thành, đáng nhẽ bị cáo phải có trách nhiệm ngăn cản, khuyên can các bị cáo khác nhưng bị cáo lại xúi giục, rủ rê các bị cáo dưới 18 tuổi thực hiện đến 3 vụ trộm cắp tài sản. Do đó cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

HĐXX nhận thấy cần cách ly bị cáo Q và Đ ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định mới có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo V1 thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 7.200.000 đồng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo được áp dụng chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. HĐXX nhận thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe đối với bị cáo.

[2.3]. Đối với Trần Ngọc T1 và Lưu Bá H3 có hành vi trộm cắp 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 11KW, 15Hp, màu xám gắn với 01 dàn khung sắt để gắn mô tơ của ông Huỳnh Quang Đ1 vào đầu tháng 10/2023, tài sản có trị giá là 3.500.000 đồng; 01 Bơm nước 3 pha, 5Hp, 3,7KW, màu xám bạc, đấu nối với 12 mét dây điện 3 pha màu xám của ông Lê Văn T vào đầu tháng 10/2023, tài sản có trị giá là 1.900.000 đồng; 01 Mô tơ điện 3 pha, 15Hp, 11KW, màu xanh; 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 15KW, màu xám gắn với 01 khung kéo bằng kim loại có gắn 02 bánh xe cao su của ông Huỳnh Tấn P và ông Võ Kim S2 vào ngày 14/10/203, tài sản có trị giá là 7.200.000 đồng. Ngoài ra Lưu Bá H3 còn tham gia trộm cắp 01 Bơm nước nhãn hiệu Văn Thể 4 của ông Nguyễn Văn H2, vào ngày 12/10/2023 tài sản có trị giá là 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội vào lần gần nhất (ngày 14/10/2024) Trần Ngọc T1 đang 15 tuổi 10 tháng 24 ngày, Lưu Bá H3 đang 15 tuổi 02 tháng 12 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, ngày 29 tháng 02 năm 2024, Công an huyện E đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với Trần Ngọc T1 và Lưu Bá H3 về hành vi trộm cắp tài sản quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15, Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.

Đối với Nguyễn Xuân N khi mua bơm nước và mô tơ điện thì không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý theo quy định. Đối với bà Lê Thị L; Bùi Thị Tường V3; ông Bùi Đình V; bà Dương Lê Ngân H4 khi cho các bị cáo mượn xe mô tô nhưng không biết việc các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do đó không có căn cứ để xử lý theo quy định.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cần chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trao trả: 01 Mô tơ điện 3 pha, 15Hp, 11KW, màu xanh cho ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1984, nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 15KW, màu xám gắn với 01 khung kéo bằng kim loại có gắn 02 bánh xe cao su cho ông Võ Kim S, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 11KW, 15Hp, màu xám gắn với 01 dàn khung sắt để gắn mô tơ; Bơm nước 3 pha, 5Hp, 3,7KW, màu xám bạc đấu nối với 12 mét dây điện 3 pha màu xám; Bơm nước nhãn hiệu Văn Thể 4, màu trắng bạc mà Nguyễn Sỹ Q và Bùi Hải Đ đã bán cho anh Nguyễn Xuân N. Sau đó, anh N đã bán cho người khách (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nên không có cơ sở để truy tìm, thu giữ.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y2S, gắn sim số 0833521147 Nguyễn Sỹ Q khai nhận vào ngày 14/10/2023, khi bị người dân phát hiện truy đuổi bỏ chạy thì Q đã làm rơi nhưng không nhớ ở vị trí nào nên không có cơ sở để truy tìm, thu giữ.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y22S, gắn sim số 0899570223 Võ Hồng V1 khai nhận vào ngày 14/10/2023, khi bị người dân phát hiện truy đuổi bỏ chạy thì V1 đã làm rơi nhưng không nhớ ở vị trí nào nên không có cơ sở để truy tìm, thu giữ.

Đối với 02 cái cờ lê 19; 01 cái tua vít; 01cái thanh sắt, hình trụ đường kính 1,5cm dài 30 cm; 01 cái búa; 01 cái cưa sắt; 01 sợi dây cao su dài khoảng 1,5 mét; 01 cái kìm nhựa màu đỏ; 01 cái mỏ lết; 01 cái kìm bấm; 01 túi vải màu xanh Nguyễn Sỹ Q khai nhận vào ngày 14/10/2023, khi bị người dân phát hiện truy đuổi Q đã vứt bỏ trên đường chạy trốn nhưng không nhớ ở vị trí nào nên không có cơ sở để truy tìm, thu giữ.

Cần chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện E trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đỏ đen, Số máy: 5C63733043; 01 Biển kiểm soát 47D1-179.41 cho bà Bùi Thị Tường V3, sinh năm 1988, nơi cư trú: Buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng đen, số máy: 5C63723561, 01 Biển kiểm soát 47D1-627.83 cho bà Lê Thị L, sinh năm 1981, nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là chủ sở hữu hợp pháp.

Cần tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với 02 chiếc điện thoại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu xanh, số IMEI 1: 350078310214996, số IMEI 2: 350078312214994, gắn sim số 0825809705; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu vàng, gắn sim số 0383568149 là phương tiện mà Đ, H3 dùng để liên lạc thực hiện việc phạm tội.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

  • Gia đình Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q, Trần Ngọc T1 và Lưu Bá H3 đã bồi thường cho ông Huỳnh Quang Đ1; Lê Văn T; Nguyễn Văn H2 tổng số tiền là 9.050.000 đồng, ông Đ1, ông T, ông H2 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết.
  • Ông Huỳnh Tấn P và ông Võ Kim S không yêu cầu phải bồi thường gì về dân sự, nên không đề cập giải quyết.

[5]. Về án phí: Các bị cáo Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q, Võ Hồng V1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q, Võ Hồng V1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm g, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Hải Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ Q 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Hồng V1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Võ Hồng V1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trao trả: 01 Mô tơ điện 3 pha, 15Hp, 11KW, màu xanh cho ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1984, nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; 01 Mô tơ điện 3 pha, nhãn hiệu HITACHI, 15KW, màu xám gắn với 01 khung kéo bằng kim loại có gắn 02 bánh xe cao su cho ông Võ Kim S, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là chủ sở hữu hợp pháp.
  • Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện E trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đỏ đen, Số máy: 5C63733043; 01 Biển kiểm soát 47D1-179.41 cho bà Bùi Thị Tường V3, sinh năm 1988, nơi cư trú: Buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng đen, số máy: 5C63723561, 01 Biển kiểm soát 47D1-627.83 cho bà Lê Thị L, sinh năm 1981, nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là chủ sở hữu hợp pháp.
  • Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với 02 chiếc điện thoại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu xanh, số IMEI 1: 350078310214996, số IMEI 2: 350078312214994, gắn sim số 0825809705; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu vàng, gắn sim số 0383568149 là phương tiện mà Đ, H3 dùng để liên lạc thực hiện việc phạm tội.

(Đặc điểm các vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án).

3. Về trách nhiệm dân sự:

  • Gia đình Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q, Trần Ngọc T1 và Lưu Bá H3 đã bồi thường cho ông Huỳnh Quang Đ1; Lê Văn T; Nguyễn Văn H2 tổng số tiền là 9.050.000 đồng, ông Đ1, ông T, ông H2 đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết.
  • Ông Huỳnh Tấn P và ông Võ Kim S không yêu cầu phải bồi thường gì về dân sự, nên không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Bùi Hải Đ, Nguyễn Sỹ Q, Võ Hồng V1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Viện KSND huyện EaH'leo;
  • - Công an huyện EaH'leo;
  • - Chi cục THADS huyện EaH'leo;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện EaH'leo;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đăk Lăk.
  • - Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguỵ Thế Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 10/2023 đến ngày 14/10/2023, Nguyễn Sỹ Q, Bùi Hải Đ và Võ Hồng V1 đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của nhiều người khác nhau trên địa bàn xã E và xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Trong đó: Bị cáo Bùi Hải Đ thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.400.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Sỹ Q thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.600.000 đồng; Bị cáo Võ Hồng V1 thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 7.200.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger