Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ SÊ

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS - ST

Ngày 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đức Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Thiên Và ông Siu YBít.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Thị Mỹ Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Sê.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Băng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Võ Công T, (tên gọi khác: Tí T1) sinh năm 1995; Nơi thường trú: Hẻm B đường T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông Võ Công T2 và bà Hoàng Thị Thanh T3; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ là Phạm Thị Tường V, sinh năm 1993 (đã ly hôn năm 2022), có 01 con sinh năm 2022; Tiền án: 01 - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 76/2017/HSST ngày 28/6/2017 của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai kết án Võ Công T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2019. (Chưa được xoá án tích); Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2023/HSST ngày 31/3/2023, của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã xét xử và kết án Võ Công T 03 (ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ2 – Bộ C2, theo Quyết định Thi hành án phạt tù số 83/2023/QĐ CA ngày 04/5/2023 của TAND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Võ Công T4, (Tên gọi khác: Đ) Sinh ngày: 18/11/2001 tại tỉnh Gia Lai; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: tổ D, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: phụ bếp; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông Võ Công T2 và bà Hoàng Thị Thanh T3; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2021/HSST ngày 16/6/2021 của TAND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai kết án Võ Công Tiến 05 (năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Vận chuyển hàng cấm”; Ngày 20/10/2023, Võ Công T4 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện I, tỉnh Gia Lai ra Quyết định khởi tố bị can, ra Lệnh bắt bị can để tạm giam về hành vi Cố ý gây thương tích theo quy định tại Khoản 3, Điều 134, Bộ luật hình sự. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/03/2024 theo Lệnh tạm giam của Cơ quan CSĐT Công an huyện I, tỉnh Gia Lai. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.

3. Trần Đức H (tên gọi khác: B), sinh ngày 24/10/2003 tại Gia Lai; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ E, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T5 và bà Nguyễn Thị Thương K; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/6/2024, được Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
  2. Anh Phạm Thanh T6, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
  3. Anh Tôn T7, sinh ngày 22/6/1995; Địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
  4. Anh Phạm N, sinh ngày 06/5/1992; Địa chỉ: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trọng N1 (tên thường gọi: R, sinh năm: 1996; trú tại: Thôn B, xã I, huyện C) và Võ Công T (tên thường gọi: Tí T1) có quan hệ quen biết nhau qua quan hệ xã hội. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/8/2022, do có mâu thuẫn từ trước với Nguyễn Trọng N1, khi N1 đang nợ T số tiền 17.000.000 đồng (tiền chơi game) nên Võ Công T chuẩn bị 01 bình xịt hơi cay (loại PX4), 02 con dao (loại dao mèo) dài khoảng 60cm cất trong 01 túi xách balo màu đen rồi gọi điện thoại rủ Võ Công T4 (tên thường gọi: Đen), nói “Đi xuống C chơi với anh hai xíu rồi về”, T4 đồng ý. Lúc này, T4 đang ở nhà nghỉ T12 (đường T, phường T, Tp P) cùng với Trần Đức H (tên thường gọi: Bi) và Đ1 (tên thường gọi: M, chưa xác định nhân thân lại lịch) nên T4 đã rủ thì H và Đ1 đồng ý đi cùng. T4 gọi taxi của anh Tôn T7 (Sinh năm 1995, trú tại: 2 T, Tổ dân phố G, phường T, Tp P), là tài xế taxi biển kiểm soát 81A-15851 của hãng T13 đón T4, H và Đ1, rồi đón Võ Công T tại hẻm B S, phường H, Tp P, Gia Lai.

Đến khoảng hơn 01 giờ 30 phút, ngày 18/8/2022, khi đến thị trấn C thì Võ Công T chỉ đường cho tài xế đi đến phòng trọ của Nguyễn Trọng N1, gần khu vực chợ C3, thuộc Tổ dân phố C, thị trấn C rồi cùng với T4, Đ1, H cùng đi vào khu phòng trọ gọi Nguyễn Trọng N1. Lúc này, N1 đang ở trong phòng trọ cùng với Nguyễn Thị T8 (Sinh năm 1996, trú tại: Thôn C, xã I) và Nguyễn Văn N2 (tên thường gọi: B1, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn A, xã I) nhưng N1 không trả lời. Do vậy, T nói Đ1 cúi xuống để T đứng lên vai của Đ1 rồi nhìn qua khe cửa thông gió, T sử dụng bình xịt hơi cay, xịt vào phòng của N1 rồi cùng với T4, Đ1, H lên xe taxi đi đến chợ phía Nam thị trấn C đứng đợi. Sau đó, T gọi điện thoại cho Dương Văn T9 (Tên gọi khác: Tư D; sinh năm 2001; trú tại: Thôn H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai) cùng là bạn xã hội của T và N1 biết. Dương Văn T9 biết sự việc, đã gặp Nguyễn Trọng N1 rồi gặp Võ Công T để sắp xếp hòa giải nhưng cả N1 và T không đồng ý nên T9 đi về.

Đối với Nguyễn Trọng N1, sau khi bị Võ Công T xịt hơi cay vào phòng, N1 đã gọi điện thoại cho Lê Xuân K1 (Sinh năm: 1992, trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn C) kể lại sự việc, Lê Xuân K1 cầm theo 01 con dao (loại dao rựa- dài khoảng 60cm) đi đến phòng trọ N1; còn Nguyễn Văn N2 gọi điện thoại cho Lê Văn L (sinh năm: 2001, trú tại: Thôn A, xã I) nói “anh bị xịt hơi cay, em đi ra thị trấn C”, L đồng ý gọi Phạm Anh D1 (sinh năm: 2006, trú tại Thôn A, xã I) đang cùng ngủ tại nhà L dậy, rồi cùng đi đến nhà Lê Đức Q (tên thường gọi: N3, sinh năm: 2004, cùng trú tại Thôn A, xã I) gọi Q đi ra ngã ba I thì gặp taxi M1, biển kiểm soát 81A-130.84 do anh Phạm N (sinh năm: 1992, trú tại Làng T, xã I, huyện C) được N1 gọi vào đón, chở đi ra ngã ba đường H - H gặp Nguyễn Trọng N1, Lê Xuân K1, Nguyễn Văn N2 đang đứng chờ. Tại đây, N1 nói D1 điều khiển xe mô tô của N1 đi về phòng trọ, còn N1 cầm theo 01 con dao (loại dao mèo) dài khoảng 50cm, K1 cầm theo 01 con dao (loại dao rựa) dài khoảng 60cm, Q cầm theo 01 con dao (loại dao rựa) dài khoảng 60cm, còn N2, L không cầm theo hung khí cùng lên T10 đi đến ngã tư đường H - V, thuộc Tổ dân phố A, thị trấn C, xuống xe đứng trên vỉa hè đường H (hướng từ huyện C đi thành phố P). Lúc này, xe taxi chở nhóm Võ Công T đi đến trước mặt nhóm N1 đang đứng với khoảng cách 2,40m thì Võ Công T đang ngồi ghế trước bên phụ hạ kính xuống xịt hơi cay vào nhóm N1 rồi dừng lại. Võ Công T lấy túi xách đựng dao đặt xuống đường, T4 cầm 01 con dao, H cầm 01 con dao, còn T nhặt 01 dao rựa do nhóm của N1 ném tới rồi đuổi chém nhóm N1, làm nhóm N1 bỏ chạy. Sau đó, N1 đưa cho N2 cầm con dao (loại dao mèo) rồi cùng với Q, L nhặt đá ném nhóm của T, khi bị ném đá nhóm Võ Công T bỏ chạy hướng về xe taxi màu vàng đang đợi, khi chạy T bị ngã xuống đường tư thế ngồi, N1 lao vào ôm, giằng co với Võ Công T. Thấy vậy, Nguyễn Văn N2 cầm con dao mèo chạy đến đứng bên cạnh, khoảng cách 80cm đến 01m, vung dao chém 02 nhát trúng vào đầu và bàn tay của Võ Công T. Lúc này Võ Công T4 cầm dao đến chém lại N1 thì N1 dùng tay nắm lấy lưỡi dao, làm N1 bị thương ở bàn tay trái, K1, Q, L vẫn đuổi đánh nhóm của T, rồi được tài xế Taxi Phạm N và Tôn T7 chở đi cấp cứu, điều trị.

Hậu quả: Võ Công T bị thương tích 02 vết thương, gồm: Vùng thái dương đỉnh chẩm phải KT: 6 x 0,2cm lộ vỡ xương chẩm; Vết thương vùng lưng KT: 7 x 0,2cm và cụt đứt tự nhiên ngón IV, V bàn tay trái, lộ xương gãy chéo vát, phải điều trị tại Bệnh viện Q1, tỉnh Gia Lai. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 328/22/TgT, ngày 12/10/2022, Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận thương tích của Võ Công T là 34% (Ba mươi tư phần trăm); Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp; Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén.

Hành vi của Nguyễn Trọng N1, Nguyễn Văn N2, Lê Xuân K1, Lê Đức Q, Lê Văn L đã có đủ yếu tố cấu thành tội Giết người, quy định tại tại điểm n, khoản 1, Điều 123, Bộ luật hình sự. Hiện Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã xét xử xong.

Đối với hành vi Gây rối trật tự công cộng của Võ Công T, Võ Công T4, Trần Đức H và nam thanh niên tên Đ1 xảy ra vào ngày 18/08/2022 tại địa bàn thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã chuyển hồ sơ vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để điều tra xử lý theo thẩm quyền..

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Trọng N1 và Võ Công T có mâu thuẫn từ trước, do Nguyễn Trọng N1 nợ Võ Công T số tiền 17.000.000 đồng là tiền chơi game, nên tối ngày 17 rạng sáng ngày 18/8/2022, Võ Công T đã chuẩn bị bình xịt hơi cay, 02 dao tự chế và rủ Võ Công T4, Trần Đức H, nam thanh niên tên Đ1 đến xịt hơi cay vào phòng trọ của Nguyễn Trọng N1 tại Tổ dân phố C, thị trấn C, sau đó tiếp tục đến khu vực Cổng chào chợ phía nam thuộc Tổ dân phố A, thị trấn C xịt hơi cay, cầm dao đuổi đánh nhau với nhóm Nguyễn Trọng N1 dẫn đến xảy ra vụ án Giết người, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, gây mất an ninh trật tự tại địa bàn thị trấn C, huyện C.

Hành vi của các bị can Võ Công T, Võ Công T4, Trần Đức H và đối tượng tên Đ1 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) trên là cầm bình xịt hơi cay, dao tự chế đuổi đánh nhau với nhóm của Nguyễn Trọng N1 và nhóm của N1 cũng đã dùng dao rựa đuổi đánh nhau và đá ném lại nhóm của Võ Công T trong một khoảng thời gian dài đã gây ồn ào, mất trật tự trên các tuyền đường giao thông, khu vực dân cư đông người, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang, lo sợ, làm mất sự ổn định, trật tự công cộng, sinh hoạt bình thường của người dân. Vì vậy, quần chúng nhân dân trên địa bàn thị trấn C đã trình báo vụ việc đến Cơ quan Công an. Sau khi sự việc xảy ra các tổ trưởng Tổ dân phố 12, Ủy ban nhân dân thị trấn C và Công an thị trấn C đã làm báo cáo đến cơ quan chức năng yêu cầu xử lý các đối tượng trên.

* Về vật chứng của vụ án:

Theo lời khai của Võ Công T, ngày 18/8/2022, T sử dụng 01 bình xịt hơi cay (loại PX4), xịt vào phòng trọ của Nguyễn Trọng N1 thuộc Tổ dân phố C, thị trấn C, tiếp tục sử dụng xịt vào nhóm của N1 tại khu vực Cổng chào chợ phía nam thuộc Tổ dân phố A, thị trấn C, sau khi sử dụng T đã vứt bình xịt hơi cay tại hiện trường. Do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ được, nên không có căn cứ ra Quyết định trưng cầu giám định đối với bình xịt hơi cay trên.

01 con dao tự chế Võ Công T nhặt của nhóm Nguyễn Trọng N1, sử dụng đánh nhóm của N1, sau khi sử dụng đã vứt tại hiện trường. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được. Nên không có căn cứ để xử lý.

01 con dao tự chế, kích thước khoảng 60cm, Trần Đức H sử dụng đánh nhóm Nguyễn Trọng N1, sau khi sử dụng để rơi tại hiện trường. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được. Nên không có căn cứ để xử lý.

01 con dao tự chế, kích thước khoảng 60cm, Võ Công T4 sử dụng đuổi đánh nhóm Nguyễn Trọng N1, sau khi sử dụng, trên đường đi về T4 đã vứt không xác định được địa điểm, vị trí. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được. Nên không có căn cứ để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số: 26/CT - VKS ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Võ Công T, Võ Công T4, Trần Đức H về tội “Gây rối trật tự công cộng theo” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Công T: từ 04(bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tại Bản án số 50/2023/HSST ngày 31/3/2023 của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, buộc bị cáo Võ Công T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Công T4 từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị Trần Đức H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Đức H cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68, 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Các bị cáo Võ Công T, Võ Công T4, Trần Đức H khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo T11 đã truy tố, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Công T, Võ Công T4, Trần Đức H khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 18/8/2022, xuất phát từ việc Nguyễn Trọng N1 (trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai) nợ của Võ Công T số tiền 17.000.000 đồng, là khoản nợ phát sinh từ việc chơi Game. Võ Công T đã chuẩn bị 01 bình xịt hơi cay, 02 con dao tự chế rồi rủ Võ Công T4, Trần Đức H và 01 người thanh niên tên Đ1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) thuê xe ta-xi di chuyển từ thành phố P đến thị trấn C để nói chuyện với N1. Khi nhóm của T đến phòng trọ của N1 ở thị trấn C, T đã gõ cửa nhưng N1 không mở cửa nên T đã dùng bình xịt hơi cay xịt vào phòng của N1, lúc này N1 và một vài bạn của N1 đang có ở trong phòng. Sau đó nhóm của T lên xe taxi di chuyển trên đường H đi về hướng thành phố P, khi đến ngã tư đường H - V thuộc tổ dân phố A, thị trấn C thì gặp nhóm của N1 gồm Nguyễn Trọng N1, Lê Xuân K1, Nguyễn Văn N2, Lê Đức Q, Lê Văn L đang đứng đợi. Tại đây giữa nhóm của T và nhóm của N1 đã xảy ra đánh nhau, khi đánh nhau thì T4 cầm 01 con dao, H cầm 01 con dao, T cầm 01 con dao do T nhặt được từ nhóm của N1 đuối đánh, chém nhóm của N1, nhóm của N1 người cầm dao, người cầm đá đuổi, đánh, chém nhau với nhóm của T. Sự việc hai bên đánh nhau diễn ra trong một khoảng thời gian dài từ 01 giờ 30 đến khoảng 03 giờ sáng ngày 18/8/2022, hậu quả Võ Công T bị nhóm của N1 đánh, chém vào đầu gây thương tích tỉ lệ 34%. Những người gây thương tích cho T sau đó đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử và kết án về tội “Giết người”.

Xét thấy, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà Võ Công T đã chuẩn bị bình xịt hơi cay, 02 con dao tự chế, rủ đồng bọn đến xịt hơi cay vào phòng trọ của Nguyễn Trọng N1, sau đó tiếp tục đến khu vực Cổng chào chợ phía nam thuộc Tổ dân phố A, thị trấn C xịt hơi cay, cầm dao rượt đuổi, đánh nhau với nhóm Nguyễn Trọng N1 trong khu vực đông dân cư sinh sống, thời gian diễn ra vào ban đêm trong một khoảng thời gian dài, dẫn đến xảy ra vụ án Giết người, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Võ Công T, Võ Công T4, Trần Đức H đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi và vai trò đồng phạm của các bị cáo:

Tội phạm mà các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, các bị cáo rủ rê nhau thực hiện, trong đó vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo thể hiện khác nhau, vì vậy cần cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để có hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo Võ Công T là người giữ vai trò khởi xướng và thực hành trong vụ án, T đã chuẩn bị hung khí, rủ rê các bị cáo T4, H tham gia vào vụ việc, T trực tiếp xịt hơi cay, dùng dao đánh nhau với nhóm của N1. Hành vi của T có tính nguy hiểm cao nhất nên T phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.

Bị cáo Võ Công T4 là người thực hành trong vụ án, khi được Võ Công T rủ đi xuống C thì T4 đồng ý, T4 đã dùng dao tham gia đánh nhau với nhóm của N1, nên T4 phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi đã thực hiện.

Bị cáo Trần Đức H là người thực hành trong vụ án, khi được Võ Công T4 rủ đi xuống C thì H đồng ý, H đã dùng dao tham gia đánh nhau với nhóm của N1 gây mất trật tự công cộng nên H phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã thực hiện.

[4]. Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, bị cáo Võ Công T có nhân thân xấu, năm 2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku xét xử và kết án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích, Năm 2022 lại tiếp tục phạm tội gây rối trật tự công cộng, năm 2023 bị cáo tiếp tục bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku kết án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hiện đang chấp hành án của bản án này. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo, khả năng tự cải tạo và giáo dục thấp nên cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Bị cáo Võ Công T4 hiện đang bị Cơ quan CSĐT Công an huyện I khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2024 về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Trần Đức H có nhân thân tốt, chưa lần nào bị kết án, chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Đức H có bố đẻ trong quá trình công tác có nhiều thành tích, được nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý gồm Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất vào năm 2006, Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất năm 2011, hàng năm được tặng thưởng nhiều Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong tấn công, trấn áp tội phạm, có mẹ đẻ hiện đang công tác trong ngành giáo dục được Bộ trưởng Bộ G tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục năm 2022 vì đã đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo; Ông ngoại của bị cáo là ông Nguyễn Hoàng C tham gia phục vụ cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất vào năm 1986; Bị cáo có ông nội là ông Trần Văn A có tham gia hoạt động Cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng ngày 02/9/2021 và Huy C1 kháng chiến hạng nhì năm 2015, là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Công T có 01 tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo Võ Công T4, Trần Đức H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo khi tham gia thực hiện tội phạm, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Võ Công T là người có vai trò, hành vi có tính nguy hiểm nhất trong vụ án, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, do đó cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, xử bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt cao hơn bị cáo T4, H mới đảm bảo tính phân hóa, tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, cũng như tính răn đe riêng, phòng ngừa chung. Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của bản án hình sự sơ thẩm số 50/2023/HSST ngày 31/3/2023, của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022, nay lại bị Tòa án nhân dân huyện Chư Sê xét xử về tội phạm gây rối trật tự công cộng được thực hiện trước khi có bản án này, do đó phải tổng hợp với hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Võ Công T4 giữ vai trò, tính nguy hiểm hành vi thấp hơn bị cáo T, hiện bị cáo T4 cũng đang bị tạm giam để điều tra trong một vụ án khác, do đó cũng cần xử bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt thấp hơn bị cáo T là phù hợp, tương xứng, đảm bảo tác dung răn đe riêng, phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Trần Đức H là người giữ vai trò đồng phạm thấp nhất trong vụ án này, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân tại nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/6/2024, thời gian này đã giúp bị cáo nhận thức được việc làm sai trái của mình, cho bị cáo thấy được sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật, tại phiên tòa bị cáo thật sự ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, bố, mẹ, ông, bà bị cáo là những người có công với nước quá trình lao động, công tác được nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý; Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa cũng đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà nên giao bị cáo về cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, cho bị cáo có cơ hội để tự cải tạo, sữa chữa sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[6].Về vấn đề khác có liên quan đến vụ án;

Đối với nam thanh niên tên Đ1 (tên gọi khác M) là người tham gia cùng với Võ Công T, Võ Công T4, Trần Đức H trong vụ án này. Trong quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau. Là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Tôn T7 là tài xế xe Taxi chở Võ Công T cùng đồng bọn đến thị trấn C nhằm mục đích hưởng tiền dịch vụ, Tôn T7 không biết, không thấy việc Võ Công T cùng đồng bọn cầm hung khí đi đánh nhau, không bàn bạc thống nhất gì, sau khi Võ Công T bị thương tích Tôn T7 đã chở đi cấp cứu. Do đó cơ quan CSĐT Công an huyện C không đề cập xử lý. Là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[7]. Về xử lý vật chứng:

- Theo lời khai của Võ Công T, ngày 18/8/2022, T sử dụng 01 bình xịt hơi cay (loại PX4), xịt vào phòng trọ của Nguyễn Trọng N1 thuộc Tổ dân phố C, thị trấn C, tiếp tục sử dụng xịt vào nhóm của N1 tại khu vực Cổng chào chợ phía nam thuộc Tổ dân phố A, thị trấn C, sau khi sử dụng T đã vứt bình xịt hơi cay tại hiện trường. Do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ được, nên không có căn cứ ra Quyết định trưng cầu giám định đối với bình xịt hơi cay trên. Là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- 01 con dao tự chế Võ Công T nhặt của nhóm Nguyễn Trọng N1, sử dụng đánh nhóm của N1, sau khi sử dụng đã vứt tại hiện trường. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được. Nên không có căn cứ để xử lý. Là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- 01 con dao tự chế, kích thước khoảng 60cm, Trần Đức H sử dụng đánh nhóm Nguyễn Trọng N1, sau khi sử dụng để rơi tại hiện trường. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được. Nên không có căn cứ để xử lý. Là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- 01 con dao tự chế, kích thước khoảng 60cm, Võ Công T4 sử dụng đuổi đánh nhóm Nguyễn Trọng N1, sau khi sử dụng, trên đường đi về T4 đã vứt không xác định được địa điểm, vị trí. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không thu giữ được. Nên không có căn cứ để xử lý. Là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Công T, Võ Công T4, Trần Đức H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Công T 04 (B2) năm tù
  • Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 50/2023/HSST ngày 31/3/2023 của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, buộc bị cáo Võ Công T phải chấp hành hình phạt tù chung của hai bản án là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2022.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Công T4 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Đức H cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68, 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 24, 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Chư Sê;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Chư Sê;
  • - CQTHAHS Công an huyện Chư Sê;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Chư Sê;
  • - Bị cáo; người TGTT khác;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn, Tòa án huyện.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Đức Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS - ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 42/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Công T và đồng phạm có hành vi Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger