Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Tòng.

2. Bà Trương Ngọc Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Ma Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định thay đổi thời gian xét xử số 05/2024/QĐ-TA ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. VŨ VĂN H1 (tên gọi khác: Không); sinh ngày 07/7/1992 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; đảng, đoàn thể: Không; con ông Vũ Văn H (đã chết) và bà Nông Thị D, sinh năm 1972; anh chị em có 02 người, bị cáo là thứ 2; vợ: Ngô Thị Y, sinh năm 1990 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019.

  • - Tiền án, tiền sự: Không.
  • - Nhân thân: Bản án số 72/2018/HSST ngày 22/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm 06 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2021).
  • - Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

2. PHẠM TRUNG Q (tên gọi khác: Không); sinh ngày 29/8/1989 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; đảng, đoàn thể: Không; con ông Phạm Xuân T, sinh năm 1959 và bà Hà Thị K, sinh năm 1969; vợ, con: chưa có.

  • - Tiền án: Không.
  • - Tiền sự: Ngày 16/10/2023 Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền (chưa chấp hành).
  • - Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 05/4/2024, Vũ Văn H1, trú tại thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang một mình điều khiển xe mô tô biển số 22F1-253.62 (xe của H1) đi đến thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến khu vực vòng xuyến thuộc thị trấn T, huyện H, H1 gặp một người đàn không quen biết hỏi mua được 01 gói Heroine (bên ngoài gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa Heroine dạng bột vón cục màu trắng) với giá 500.000 đồng (lúc này khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày). Mua được H2, khi về đến nhà H1 lấy gói Heroine vừa mua được san ra một phần để sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, phần còn lại Hoàng gói lại như cũ và cất giấu vào túi quần đang mặc.

Khoảng 09 giờ 54 phút, ngày 06/4/2024, H1 nhận được cuộc gọi của Phạm Trung Q, trú tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (từ số thuê bao 0378.942.981 của Q gọi đến số thuê bao 0388.285.320 của H1), Q hỏi H1 "Có đồ không lấy anh ba trăm" ý hỏi H1 còn chất ma túy không bán cho Q 300.000 đồng; H1 trả lời "có gì để em lấy cho". Ngay sau đó H1 điều khiển xe mô tô biển số 22F1-253.62 đem theo gói Heroine đến nhà Q tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang bán cho Q với giá 300.000 đồng (lúc này khoảng 10 giờ cùng ngày). Sau khi nhận gói Heroine từ H1, Q bảo Hoàng ở nhà chờ khi Q quay về thì trả tiền, sau đó Q điều khiển xe máy điện nhãn hiệu YBIKE: S6000 (xe của Phạm Phương L, sinh năm 2006, trú tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang) đem theo gói H2 đi đến khu vực thôn L, xã X tìm địa điểm để sử dụng thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang làm nhiệm vụ, nghi Q có hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy nên yêu cầu Q dừng lại để kiểm tra. Quá trình làm việc Q đã tự giác giao nộp gói Heroine có đặc điểm nêu trên cho tổ công tác và khai nhận mua của Vũ Văn H1. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Trung Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ vật chứng; còn đối với Vũ Văn H1 ngồi chờ không thấy Q quay lại. Do sợ bị phát hiện H1 bỏ trốn khỏi nơi cư trú, đến ngày 23/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C triệu tập H1 đến trụ sở Công an huyện C để làm việc. Tại Cơ quan điều tra H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Phạm Trung Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã khởi tố bổ sung vụ án hình sự và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Vũ Văn H1 về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Tại các biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đối với Phạm Trung Q, Vũ Văn H1, kết quả (+) dương tính với chất ma túy.

Kết luận giám định số: 512/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Phạm Trung Q gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Hêrôin); khối lượng 0,143g (Không phẩy một trăm bốn ba gam).

Cáo trạng số 38/CT-VKSCH, ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo:

  • Vũ Văn H1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  • Phạm Trung Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra, không phát sinh tình tiết mới; kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang luận tội giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo:
    • Vũ Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
    • Phạm Trung Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • - Về hình phạt:
    • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn H1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/5/2024.
    • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Trung Q từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2024.
    • - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2 Điều 35 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự:
    • Bị cáo Vũ Văn H1 tàng trữ ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời, nên phạt tiền bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
    • Bị cáo Phạm Trung Q tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ xác nhận của Phạm Trung Q, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Phạm Trung Q, giám định ngày 06/4/2024.
    • Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE ALPHA màu sơn xanh-đen-bạc, biển số 22F1-253.62, xe cũ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
    • Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo Hoàng bán ma túy cho Phạm Trung Q, tuy nhiên bị cáo Q chưa trả tiền cho bị cáo H1, do vậy không xem xét, giải quyết đối với số tiền trên.
  • - Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Trung Q và Vũ Văn H1, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.
  • - Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn H1, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
  • - Trong quá trình điều tra Phạm Trung Q còn khai ngoài lần mua Heroine với H1 như đã nêu trên thì Q còn 02 lần khác mua H2 về sử dụng (01 lần mua của một người không quen biết; 01 lần mua Heroine với Hoàng Văn T1, trú tại thôn Đ, xã N, huyện C). Hành vi bán trái phép chất ma túy của Hoàng Văn T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã khởi tố trong một vụ án khác, do vậy không đề nghị xử lý trong vụ án này.
  • - Đối với chiếc điện thoại của Vũ Văn H1, H1 khai đã bị đánh rơi, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được; chiếc điện thoại của Phạm Trung Q dùng để liên lạc mua ma túy, Cơ quan điểm tra đã tiến hành thu giữ trong vụ án khác, do vậy không đề nghị xem xét.

Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phần tranh luận các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Trung Q và Vũ Văn Hoàng thành k nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

Vũ Văn H1 đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cụ thể như sau: Khoảng 10 giờ, ngày 06/4/2024 tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Vũ Văn H1 đã có hành vi bán trái phép 0,143 gam Heroine cho Phạm Trung Q, trú tại tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang với giá 300.000 đồng.

Phạm Trung Q đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cụ thể như sau: Khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 06/42024 tại khu vực thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Phạm Trung Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,143 gam Heroine mục đích để sử dụng.

Như vậy hành vi của bị cáo Vũ Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Phạm Trung Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Phạm Trung Q và Vũ Văn H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về mức hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo Vũ Văn H1, Phạm Trung Q là người có đầy đủ năng lực nhận thức, các bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc gia đình còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.

Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo Phạm Trung Q và Vũ Văn H1 được thực hiện độc lập, không liên quan đến nhau. Các bị cáo Vũ Văn H1 và Phạm Trung Q có nhân thân xấu: Năm 2018 Vũ Văn H1 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 16/10/2023 Phạm Trung Q bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền (chưa chấp hành).

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà các bị cáo mua bán, tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy nội dung buộc tội, đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai. Do vậy, căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt tù và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung, xử phạt các bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Vũ Văn H1 bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời, do vậy căn cứ khoản 2 Điều 35 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ sung đối với bị cáo trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Bị cáo Phạm Trung Q tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

  • 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ xác nhận của Phạm Trung Q, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Phạm Trung Q, giám định ngày 06/4/2024 là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE ALPHA màu sơn xanh-đen-bạc, biển số 22F1-253.62, xe cũ đã qua sử dụng. Bị cáo H1 sử dụng để đi bán ma túy, xét thấy đây là phương tiện sử dụng để phục vụ đời sống hàng ngày, do vậy cần trả lại cho bị cáo Vũ Văn H1, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo Hoàng bán ma túy cho Phạm Trung Q, tuy nhiên bị cáo Q chưa trả tiền cho bị cáo H1, do vậy không xem xét, giải quyết đối với số tiền trên.

[7] Về vấn đề khác:

  • - Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Trung Q và Vũ Văn H1, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, nên không xem xét.
  • - Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn H1, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không xem xét, giải quyết.
  • - Trong quá trình điều tra Phạm Trung Q còn khai ngoài lần mua Heroine với H1 như đã nêu trên thì Q còn 02 lần khác mua H2 về sử dụng (01 lần mua của một người không quen biết; 01 lần mua Heroine với Hoàng Văn T1, trú tại thôn Đ, xã N, huyện C). Hành vi bán trái phép chất ma túy của Hoàng Văn T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã khởi tố trong một vụ án khác, do vậy không xem xét, giải quyết.
  • - Đối với chiếc điện thoại của Vũ Văn H1, H1 khai đã bị đánh rơi, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được; chiếc điện thoại của Phạm Trung Q1 dùng để liên lạc mua ma túy, Cơ quan điểm tra đã tiến hành thu giữ trong vụ án khác, do vậy không xem xét, giải quyết

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Trung Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt:
    • Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn H1 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/5/2024.
    • Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là 5.000.000 đồng.
    • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Trung Q 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2024.
  • - Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ xác nhận của Phạm Trung Q, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Phạm Trung Q, giám định ngày 06/4/2024;
    • Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE ALPHA màu sơn xanh-đen-bạc, biển số 22F1-253.62, xe cũ đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.
  • - Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phạm Trung Q và Vũ Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Chiêm Hóa;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - CQCSĐT CA huyện Chiêm Hóa;
  • - CQTHAHS CA huyện Chiêm Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Chiêm Hóa;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 42 Vũ Văn H1, Phạm Trung Q (Đ251) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger