Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên và bà Nguyễn Thị Xuân Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Huỳnh Thái T, (tên gọi khác: T xì) sinh ngày 08 tháng 4 năm 1999 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo H3; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông (không xác định) và bà Huỳnh Thị Yến L, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 6 năm 2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt)
  2. Nguyễn Thế H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998 tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Thế K, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12 tháng 7 năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 14 tháng, đến ngày 28 tháng 4 năm 2022 chấp hành xong quyết định; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 6 năm 2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt)
  3. Võ Minh S, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2000 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo H3; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Võ Minh H2, sinh năm 1965 và bà Lê Thanh T1, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 6 năm 2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Hồ Anh K1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số B, Khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  2. Nguyễn Ngọc K2, sinh năm 2007. Địa chỉ: Số C, Khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0397.609.xxx)

- Người đại diện theo pháp luật của K2: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số C, Khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0397.609.xxx)

  1. Nguyễn Thị Mỹ K3, sinh năm 2008. Địa chỉ: Số A, Khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0782.818.xxx)

Người đại diện theo pháp luật của K3: Bà Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số A, Khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0782.818.xxx)

  1. Nguyễn Minh C, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số F, Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0789.517.xxx)
  2. Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số A, Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0762.908.xxx)
  3. Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số C, Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 03 tháng 6 năm 2023 nhận được tố giác về tội phạm của quần chúng nhân dân, Công an phường M, thành phố L kiểm tra hành chính nhà của bà Nguyễn Thị N1 tại tổ A, khóm T, phường M, thành phố L. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có bà Nguyễn Thị N1, Huỳnh Thái T, Nguyễn Thế H, Võ Minh S, Nguyễn Ngọc K2, Nguyễn Thị Mỹ K3, Nguyễn Minh C, Hồ Anh K1, Lê Thị Kiều N2. Quá trình điều tra xác định các bị cáo Huỳnh Thái T đã 03 lần bán ma túy cho P, H, S. Nguyễn Thế H, Võ Minh S, Lê Văn P1 (hiện bỏ trốn và có quyết định truy nã) có hành vi nhiều lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Ngọc K2, Nguyễn Thị Mỹ K3, Nguyễn Minh C, Hồ Anh K1, Lê Thị Kiều N2 cùng sử dụng. Bà N1 không biết việc H, S, P1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Tang vật thu giữ gồm: Chất tinh thể màu trắng trong đoạn ống thủy tinh có đầu gù tròn được lấy ra để vào bọc nylon trong suốt có rãnh kẹp viền màu đỏ được niêm phong; 01 chai nhựa trong suốt có nắp chai màu đỏ gắn đoạn ống thủy tinh có đầu gù tròn và đoạn ống hút nhựa màu sọc vàng trắng, đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng màn hình cảm ứng bị nứt gắn ốp lưng màu vàng sim số chưa xác định thu giữ của Nguyễn Minh C; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen xám, sim số chưa xác định thu giữ của Hồ Anh K1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng màn hình cảm ứng bị nứt, sim số chưa xác định thu giữ của Nguyễn Thế H; 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh đen màn hình cảm ứng bị nứt, sim số chưa xác định thu giữ của Huỳnh Thái T; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen màn hình cảm ứng bị nứt, sim số chưa xác định thu giữ của Nguyễn Ngọc K2; 01 sim số điện thoại di động Vinaphone, có dãy số 11455915353 chưa xác định sim số thu giữ của Võ Minh S.

Kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 09 tháng 6 năm 2023 của Phòng K4 Công an tỉnh A, xác định: 01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Công an phường M, Công an thành phố L và các chữ ký ghi tên Lê Hoàng T4, Nguyễn Thị N1,Nguyễn Thế H, Nguyễn Ngọc K2, Nguyễn Thị Mỹ K3, Huỳnh Thái T, Võ Minh S, Nguyễn Minh C, Hồ Anh K1. Bên trong có 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ chứa tinh thể màu trắng, có khối lượng 0,0427 g (kí hiệu M). Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0427 g.

Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 03 tháng 6 năm 2023 của Công an phường M, thành phố L, xác định: T, H, S, K1, K2, K3, C, N2: Dương tính với Methamphetamine

Tại cáo trạng số 31/CT-VKSLX-HS ngày 05/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Huỳnh Thái T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thế H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự ; Võ Minh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo T, H, S vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Thái T từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Võ Minh S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy ma túy, các dụng cụ sử dụng, tài sản không còn giá trị sử dụng gồm: Chất tinh thể màu trắng trong đoạn ống thủy tinh có đầu gù tròn được lấy ra để vào bọc nylon trong suốt có rãnh kẹp viền màu đỏ được niêm phong; 01 nắp chai nhựa trong suốt có nắp chai màu đỏ gắn đoạn ống thủy tinh có đầu gù tròn và đoạn ống hút nhựa màu sọc vàng trắng; 01 quẹt gas màu xanh đã qua sử dụng; 01 sim số điện thoại di động Vinaphone, có dẫy số 11455915353 thu của Võ Minh S. Tịch thu sung vào NSNN: 01 điện thoại di động Oppo, sim số thu của Lê Văn P1; 01 điện thoại di động Huawei, sim số thu của Huỳnh Thái T. Trả lại tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm: 01 điện thoại di động Oppo, sim số thu của Nguyễn Minh C; 01 điện thoại di động Redmi màu đen, sim số thu của Hồ Anh K1; 01 điện thoại di động Vivo, sim số thu của Nguyễn Ngọc K2.

Các bị cáo T, H, S không bào chữa bổ sung gì khác, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người sử dụng ma túy về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ để kết luận:

Bị cáo Huỳnh Thái T là người nghiện ma túy, từ ngày 02/6/2023 đến 03/6/2023 T đã thực hiện hành vi 03 lần mua ma túy của T5 (không rõ địa chỉ), mỗi lần mua 01 gói với giá 200.000 đồng, về T chia ra hai phần, một phần để sử dụng phần còn lại bán cho H, S, P1 vào các ngày 2 và 3 tháng 6 năm 2023.

Các bị cáo H, S cùng với P1 đã thực hiện hành vi P1 cung cấp địa điểm nhà mình làm nơi sử dụng ma túy, lần thứ nhất ngày 02/6/2023 P1 là người liên hệ với T qua mesenger để mua ma túy cùng sử dụng và thế chấp điện thoại của mình cho T khi không có tiền thanh toán, là người cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy (chai nhựa, ông hút, ống thủy tinh, hột quẹt) để cùng sử dụng ma túy cùng H sử dụng ma túy. Bị cáo H trong lần thứ hai ngày 03/6/2023 là người sắp xếp, giao dịch việc cung cấp ma túy bằng thủ đoạn sử dụng mesenger của P1 để gọi cho T liên hệ mua ma túy, nhận ma túy trực tiếp từ T sau đó nhận từ P1 200.000 đồng và ngừoi nam (không rõ nhân thân) là bạn của K3 200.000 đồng để trực tiếp thanh toán cho T và nhận lại điện thoại P1 thế chấp ngày hôm trước, sau đó cùng sử dụng ma túy cùng P1, C, K2, K3, bạn của K3. Bị cáo H trong lần thứ ba ngày 03/6/2023 cũng cung cấp ma túy bằng thủ đoạn gọi qua mesenger cho T để giao dịch ma túy, khi Tâm giao ma túy H là người yêu cầu S thanh toán tiền, S thực hiện hành vi chuyển khoản trả số tiền 200.000 đồng cho T và cùng sử dụng ma túy H, K2, K3, C, K1. Hành vi của H, S và P1 có vai trò đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. H thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên, trong đó có K3, K2 trong độ tuổi 13 đến dưới 18 tuổi nên phải chịu các tình tiết tăng nặng định khung. Bị cáo S thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma đối với 02 người trở lên trong đó có K3, K2 trong độ tuổi 13 đến dưới 18 tuổi nên phải chịu các tình tiết tăng nặng định khung.

Hành vi nêu trên của cáo T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù (tội rất nghiêm trọng)

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù (tội rất nghiêm trọng). Bị cáo S đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù (tội rất nghiêm trọng).

Đối với Lê Văn P1 đã bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra quyết định truy nã và quyết định tách vụ án. Đối với bạn của K3 kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

T khai mua ma túy của Nguyễn Văn T6 nhưng hiện nay không rõ T6 đang ở đâu, ngoài lời khai của T không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Ngọc K2, Nguyễn Thị Mỹ K3, Nguyễn Minh C, Hồ Anh K1, Lê Thị Kiều N2 sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định pháp luật.

Nguyễn Thị N1 quản lý căn nhà thuộc tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, nhưng bà N1 không biết việc P1, H, S tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà N1 là phù hợp quy định pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy gây nên tác hại lớn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người sử dụng.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo là người đã thành niên, bản thân có hiểu biết nhất định về pháp luật khi bản thân cũng nghiện ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích hưởng lợi. Bị cáo H, S cũng thực hiện hành vi với lỗi cố ý, động cơ mục đích trực tiếp giao dịch thanh toán tiền để có ma túy cung cấp, tổ chức cho các người nghiện khác sử dụng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo S có cha tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Khi quyết định hình phạt nhận thấy: Bị cáo T nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo H, S. Bị cáo H có nhân thân xấu đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, phạm tội với 03 tình tiết tăng nặng định khung. Bị cáo S phạm tội với hai tình tiết định khung nên mức án của bị cáo T cao hơn bị cáo H, bị cáo H cao hơn bị cáo S.

[5] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thái T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thế H, Võ Minh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thái T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/6/2023).
  2. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/6/2023).
  3. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Minh S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/6/2023).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy Chất tinh thể màu trắng trong đoạn ống thủy tinh có đầu gù tròn được lấy ra để vào bọc nylon trong suốt có rãnh kẹp viền màu đỏ được niêm phong; 01 nắp chai nhựa trong suốt có nắp chai màu đỏ gắn đoạn ống thủy tinh có đầu gù tròn và đoạn ống hút nhựa màu sọc vàng trắng; 01 quẹt gas màu xanh đã qua sử dụng; 01 sim số điện thoại di động Vinaphone, có dẫy số 11455915353 thu của Võ Minh S.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Oppo, sim số thu của Lê Văn P1; 01 điện thoại di động Huawei, sim số thu của Huỳnh Thái T.

Trả lại tài sản: 01 điện thoại di động Oppo, sim số thu của Nguyễn Minh C; 01 điện thoại di động Redmi màu đen, sim số thu của Hồ Anh K1; 01 điện thoại di động Vivo, sim số thu của Nguyễn Ngọc K2.

(Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng ngày 05/02/2024)

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo T, H, S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà Tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQĐT Công an TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Quốc Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thái Tâm 08 (tám) năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger