|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 42/2024/DS-ST Ngày: 23/4/2024 V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Trần Ngọc Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mong - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 157/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2023 về việc: Tranh chấp về quyền sử dung đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22a/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QÐST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1960; nơi ĐKHKTT: Số C, phường D, Quận L, thành phố H ở hiện tại: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trịnh Văn N năm 1976 – Luật sư Công ty L3thuộc Đoàn luật sư thành phố H chỉ: Số E V, phường M, quận N, thành phố H mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A khu D, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Lê Thị N1sinh năm 1933, nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bà Phạm Thị B, sinh năm 1956; nơi cư trú: Khu F, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số B đường T, phường V, Quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bà Phạm Thị D1sinh năm 1966; nơi cư trú: Khu B, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bà Phạm Thị T năm 1968; nơi cư trú: Số D đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bà Phạm Thị T1 năm 1973; nơi cư trú: Khu E, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Người đại diện theo ủy quyền của cụ Lê Thị N1 các bà Phạm Thị BPhạm T2 D1Phạm Thị TPhạm Thị T1 Ông Phạm Ngọc H1 năm 1960; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C, phường D, Quận L, thành phố H ở hiện tại: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng (Theo Văn bản ủy quyền ngày 04/5/2023); có mặt
- Bà Nguyễn Thị L năm 1958; anh Nguyễn Văn C năm 1982 và chị Đoàn Thị O năm 1983; cùng nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; anh C1 mặt; bà L1 mặt nhưng đã có văn bản ủy quyền cho anh C (Theo Văn bản ủy quyền ngày 22/4/2024), chị O1 mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện T19, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn là ông Phạm Ngọc H2 bày: Bố mẹ ông là cụ Phạm Văn V năm 2015 và cụ Lê Thị N2 được 06 người con là Phạm Ngọc HPhạm Thị BPhạm Thị M, P
Diện tích đất 698m² có nguồn gốc từ ông bà nội ông để lại. Thửa đất trên đã được UBND huyện Tcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số AG 022973, số vào sổ cấp GCN: H01699 ngày 03/11/2005 cho hộ ông Phạm Văn Vbà Lê Thị N3 Phạm Văn V1(chết năm 2015 và cụ Lê Thị N4 06 người con là ông Phạm Ngọc H3 bà Phạm Thị BPhạm T2 D1Phạm Thị TPhạm Thị T1và Phạm Thị M Khi cụ V2 sống, hai cụ và các chị em của ông đã thống nhất để lại toàn bộ tài sản của hai cụ cho ông, ngày 18/6/2012 cụ V3 cụ N1đã lập di chúc bằng văn bản, có xác nhận của UBND thị trấn T19 để lại toàn bộ thửa đất cho ông Phạm Ngọc H4 Tuy nhiên, đến nay ông vẫn chưa làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận từ tên cụ V4 N1sang tên ông. Năm 2013, do xung quanh xóm có nhiều biến động về việc xây dựng nên diện tích đất trên đã được UBND huyện T lại GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP423487; số vào sổ cấp GCN: CH05010 ngày 06/12/2013 cho hộ ông Phạm Văn Vbà Lê Thị N5
Diện tích đất trên có các vị trí tiếp giáp như sau: Phía Tây Bắc giáp ngõ xóm TB 03m; phía Đông Bắc (chia làm 06 đoạn): Đoạn đầu giáp đất hộ bà Lê Thị T3 11,8m; đoạn 2 giáp đất hộ ông Nguyễn Văn Đ 9,69m; đoạn 3, 4 và 5 giáp đất hộ bà Nguyễn Thị L2 10,8m, 18,0m và 7,8m; đoạn 6 giáp đất ngõ đi chung của ông Phạm Văn V1+ bà Nguyễn Thị L3 dài 2,2m; phía Đông Nam (chia làm 05 đoạn): Đoạn đầu giáp đất hộ ông Lê Đình S 5,3m; đoạn 2 giáp đất hộ ông Lê Đình T4 3,73m và 4,33m; đoạn 3 giáp đất hộ ông Lê Đình L4 5,0m; đoạn 4 giáp đất hộ ông Lê Đình K 4,5m; đoạn 5 giáp đất hộ ông Lê Đình D1 4,0m; phía Tây Nam: Giáp đất hộ bà Lê Thị G hộ bà Phạm Thị C3
Diện tích ngõ đi là phần đất của gia đình ông có từ trước khi ông sinh ra, sử dụng ổn định đến tháng 05/2022 không tranh chấp với ai. Tại Giấy chứng nhận ngày 03/11/2005, diện tích ngõ này đã được ghi nhận có chiều dài 8,0m. Giấy chứng nhận ngày 06/12/2013 cũng đã ghi nhận phần ngõ này là của gia đình ông.
Do đây là diện tích đất của gia đình ông để ra làm ngõ nên chỉ có một mình gia đình ông sử dụng phần ngõ này. Gia đình bà Nguyễn Thị L5, anh Nguyễn v D3 không sử dụng phần ngõ này mà chỉ sử dụng phần ngõ đi chung phía ngoài. Những hộ gia đình ông L18 đã xây nhà hướng ra phía đường Tphần giáp ngõ tranh chấp đã xây tường nhà kiên cố, không sử dụng ngõ tranh chấp, không có tranh chấp. Phần chiều dài của ngõ là 7,8m giáp nhà bà L6 được gia đình bà L7 tường vây từ lâu, sử dụng ổn định đến khi xảy ra tranh chấp.
Tháng 5/2022, gia đình ông H và gia đình anh Nguyễn Văn D cùng tu bổ, nâng cấp đường thoát nước thải và ngõ đi. Để thuận tiện cho việc thi công, gia đình ông và gia đình anh Nguyễn Văn D đã bàn bạc thống nhất tháo dỡ cổng của hai nhà, sau khi thi công xong hai nhà sẽ dựng lại cổng ở vị trí cũ. Tuy nhiên, sau đó, gia đình anh Nguyễn Văn D đã tự ý xây dựng mở rộng cổng từ 2,1m lên 3,1m lấn sang phần ngõ của gia đình ông là 1m dài tiếp giáp với phần ngõ đi chung. Gia đình ông đã sang nói chuyện, yêu cầu gia đình anh Nguyễn Văn D phải tháo dỡ phần cổng đã xây lấn sang đất của nhà ông nhưng anh Nguyễn Văn D không nghe và cho rằng toàn bộ diện tích 17,16m² đất nêu trên là phần đất thuộc ngõ đi chung. Đồng thời, anh Nguyễn Văn D có hành vi ngăn cản gia đình dựng lại cổng ở vị trí cũ trên phần đất của mình.
Tại đơn khởi kiện, ông H5 cầu Tòa án công nhận 17,16m² đất hiện gia đình ông H6 quản lý sử dụng là lối đi riêng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông H7 gia đình anh Nguyễn Văn D phải tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây lấn sang phần đất này để trả đất cho gia đình ông.
Sau khi có kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, ông Hđề nghị Tòa án xem xét công nhận diện tích ngõ theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ là 20,28m² thuộc quyền sở hữu riêng của gia đình ông. Về diện tích kích thước thửa đất cũng như phần diện tích ngõ đi có sự thay đổi so với hồ sơ quản lý tại địa phương, GCNQSDĐ theo các thời kì là do biến động trong quá trình sử dụng của mỗi hộ và trước đây đo đạc bằng phương pháp thủ công.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L5, anh Nguyễn Văn C4 Đoàn Thị O2 trình bày:
Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì từ trước đến nay, phần đất tranh chấp là phần ngõ đi chung của gia đình anh Nguyễn Văn D và gia đình ông H Căn cứ GCNQSDĐ đã cấp cho anh Nguyễn Văn D ngày 05/9/2019 thể hiện phần ngõ đi đang tranh chấp là “đường xóm”. Đây là ngõ đi chung giữa hai gia đình.
Diện tích đất 175m² tại thửa số 286, tờ bản đồ 40 thị trấn Thiện nay gia đình đang sử dụng có nguồn gốc của bố mẹ anh D2 ông T5(đã chết) và bà L8 chuyển nhượng của ông Trần Đ1 C2khoảng năm 1988. Ông C2nhận chuyển nhượng của ông Trần Đức O3 O1nhận chuyển nhượng của ông Quyền V5(chết nhiều năm). Ông Q V1là họ hàng với ông Phạm Văn V6 diện tích đất của ông Q Vlcó nguồn gốc cùng với diện tích đất của ông V7 do bố mẹ hai ông để lại.
Diện tích đất 175m² nêu trên đã được cấp Giấy chứng nhận đứng tên hộ ông Nguyễn Văn T6 ngày 15/01/2004. Năm 2019, bà L9 thừa kế của ông T4làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này cho anh Nguyễn Văn D và đã được UBND huyện Tcấp Giấy chứng nhận số CS198473, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH06713 ngày 05/9/2019 đứng tên anh Nguyễn Văn D. Diện tích đất có tứ cận: Phía Đông giáp đất ông Đ2 Tây giáp đất ông Nguyễn N6 H1phía Nam giáp ngõ xóm, phía Bắc giáp đất ông H8 Hiện trạng đất khi bà L10 T4về sinh sống như ngày nay, không có thay đổi gì về ranh giới đất với ngõ xóm và hộ liền kề. Khi đó, trên đất chưa xây dựng tường vây như hiện nay, các gia đình và ngõ xóm ngăn cách với nhau bằng hàng rào dâm bụt.
Trên diện tích đất của gia đình hiện nay có bà Nguyễn Thị L5(mẹ anh D) và vợ chồng anh Nguyễn Văn C5(con trai bà L11 anh D3 là Đoàn Thị O4 03 con là Nguyễn Văn L2sinh năm 2008, Nguyễn Thế A năm 2010, Nguyễn Minh Q1 năm 2017 đang trực tiếp ở trên nhà đất. Trước đây, diện tích đất nêu trên của bà L10 T4 nhưng gia đình thống nhất chuyển sang tên cho anh Nguyễn Văn D để thuận lợi cho việc vay vốn làm ăn. Trong gia đình đã thống nhất diện tích đất sau này sẽ chia cho anh Có anh D4 người 1/2 diện tích. Đất và tài sản trên đất, một phần do vợ chồng ông T4bà Lxây dựng; một phần do vợ chồng ông C7 dựng nên không liên quan gì đến vợ con ông D5 tích đất tranh chấp hiện nay khoảng 16m² (chiều ngang 2,2m và dài 8m) có nguồn gốc từ xa xưa, là ngõ đi chung cho các hộ Lê Đình S1, Lê Đình L12, L19 gia đình bà L Cách đây khoảng hơn chục năm, gia đình ông S2 T3ông L1 đã xây nhà kiên cố hướng ra đường T không sử dụng phần ngõ đi này. Phía Nam giáp phần đất tranh chấp hiện nay (ngõ xóm); năm 2001, gia đình bà L đã xây tường vây kéo dài từ phần đất ông H9 hết ngõ xóm. Khi ông T7 sống đã cùng với ông V8 tư kinh phí nâng cấp ngõ tranh chấp để hai gia đình cùng sử dụng vào năm 2003.
Khoảng năm 2003, khi đó ông V2 sống đã sang nói chuyện với ông T4đề nghị cho gia đình ông V9 phần cổng (cánh được hàn bằng sắt 6, không có cột) hàn vào phần tường vây gia đình ông và gia đình ông S(từ phần đất ông V10 phần đất tranh chấp khoảng 03m). Gia đình ông Vsử dụng cổng sắt này đến năm 2021 thì chuyển vị trí ra hết phần đất tranh chấp (giáp phần ngõ chung, sát cổng gia đình bà L). Gia đình bà L chưa sử dụng đến phần đất tranh chấp nên đã không có ý kiến gì về việc chuyển vị trí cổng của ông H
Tháng 5/2022, gia đình ông H10 gia đình bà L có tu bổ, nâng cấp đường thoát nước thải và ngõ đi. Để thuận tiện cho việc thi công, gia đình ông H10 gia đình bà L6 bàn bạc và thống nhất tháo dỡ cổng cũ của hai nhà; sau khi thi công xong hai nhà sẽ lắp lại cổng. Kinh phí tu bổ hai bên gia đình cùng chịu. Tuy nhiên, khi ông H11 cổng vào vị trí cũ thì gia đình bà L yêu cầu lắp vào đúng phần đất của nhà ông H(giáp phần đất tranh chấp) nhưng ông H12 đồng ý nên hai gia đình đã xảy ra tranh chấp.
Trước tháng 5/2022, ngõ đi chung vẫn là ngõ đã được đổ bê tông, một bên giáp tường vây nhà gia đình ông D6 bên giáp tường nhà ông S2 T3và ông L12. Sau đó, gia đình bà L và gia đình ông H13 bỏ tiền, công sức để tu bổ, nâng cấp ngõ đi chung như hiện tại. Sau khi tu bổ, gia đình bà L đã phá hai trụ cổng cũ và xây hai trụ cổng mới ở cùng vị trí cổng trước đây mở rộng cổng chính vào nhà như hiện trạng, nhưng vẫn trên diện tích đất của gia đình bà L, không liên quan gì đến diện tích ngõ tranh chấp.
Hiện nay, gia đình ông H14 lối đi ra phần đất tranh chấp, còn có ngõ phía sau toàn bộ thửa đất. Vì vậy, gia đình bà L mong muốn cùng với gia đình ông Hsử dụng chung phần ngõ này; không tranh chấp. Gia đình bà L đồng ý phá dỡ tường vây, mở rộng phần ngõ tranh chấp này thêm khoảng 1m để làm ngõ đi chung với gia đình ông H4
Trên GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP423487, vào sổ cấp GCN: CH 05010 ngày 06/12/2013 cấp cho hộ ông Phạm Văn V11 Lê Thị N1xác định phần diện tích đất đang tranh chấp là đất của hộ ông V11 N1là sai. Trước đây, bị đơn đã có ý kiến yêu cầu huỷ GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Phạm Văn V12 đến nay, bị đơn thay đổi quan điểm, chỉ đề nghị Tòa án công nhận phần ngõ tranh chấp là ngõ đi chung giữa hai gia đình và đề nghị điều chỉnh lại trên sơ đồ thửa đất tại GCNQSDĐ cấp cho hộ ông V11 N1phần ngõ này là “ngõ đi chung”, không yêu cầu hủy GCNQSDĐ đối với hộ ông V11 N1.
Bị đơn đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ. Về diện tích kích thước thửa đất cũng như phần diện tích ngõ đi có sự thay đổi so với hồ sơ quản lý tại địa phương, GCNQSDĐ theo các thời kì là do biến động trong quá trình sử dụng của mỗi hộ và trước đây tiếp giáp với các hộ liền kề và hàng rào dâm bụt và kỹ thuật đo đạc bằng phương pháp thủ công. Ngoài việc tranh chấp ngõ đi trong vụ án, gia đình bị đơn không tranh chấp về ranh giới, mốc giới giữa các hộ liền kề và đã có tường bao vây quanh.
Gia đình bị đơn mong muốn gia đình ông H15 tĩnh, hoà giải để hai bên gia đình hoà thuận, giữ tình làng, nghĩa xóm. Thực tế, phần đất tranh chấp hiện nay chỉ liên quan đến hai gia đình; hai gia đình đã sử dụng chung nhiều năm, không có tranh chấp gì. Gia đình bị đơn đồng ý phá dỡ tường vây, hiến khoảng 1m lui vào phần đất của gia đình anh D để mở rộng ngõ làm ngõ đi chung với gia đình ông H16 không thỏa thuận được, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
* UBND huyện T thị trấn Tcung cấp ý kiến: Các tài liệu quản lý về đất đai tại thị trấn T hiện tại còn lưu Bản đồ giải thửa xã Mnăm 1973, chỉnh lý năm 1986 nhưng đã cũ, rách, một số vị trí không xác định được; sổ mục kê kiêm thống kê lập cho bản đồ năm 1973, chỉnh lý năm 1986; bản đồ giải thửa đo vẽ năm 1995 và sổ mục kê đất kèm theo bản đồ năm 1995; bản đồ địa chính đo vẽ tháng 5 năm 1998 và sổ mục kê kèm theo bản đồ; bản đồ kỹ thuật số (hồ sơ kỹ thuật các thửa đất). Ngoài ra không còn tài liệu nào khác.
- Đối với thửa đất số 112, tờ bản đồ số 40 đã được cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Phạm Văn V13 nguồn gốc như sau:
- - Tài liệu năm 1973, chỉnh lý năm 1986:
- + Bản đồ giải thửa xã M 1973, chỉnh lý năm 1986 thể hiện: Số thửa số 1180, diện tích 967m (loại đất thổ cư).
- + Kiểm tra số sổ mục kê - kiêm thống kê lập cho tờ bản đồ 1973, chỉnh lý 1986 không đăng ký ghi tên chủ sử dụng đối với thửa đất này.
- - Tài liệu năm 1995:
- + Tờ bản đồ giải thửa số 28 (đo vẽ năm 1995) gồm 02 thửa: Thửa số 109 (ký hiệu T), diện tích 546m²; Thửa số 133 (ký hiệu A), diện tích 132m²
- + Trang số 84, sổ mục kê đất lập cho tờ bản đồ số 28, thể hiện: Thửa 109, diện tích 546m² (loại đất thổ cư), ghi tên chủ sử dụng đất bà "Phạm Văn V2tên đúng là Phạm Văn VThửa số 133, diện tích 132m² (loại đất ao), ghi tên chủ sử dụng đất là "Ao Vui", phần diện tích ngõ tranh chấp ở giai đoạn này thể hiện ngõ tập thể
- - Tài liệu năm 1998:
- + Tờ bản đồ địa chính số 40 đo vẽ tháng 5 năm 1998 thể hiện: Thửa đất số 112, diện tích 901m²; Sổ mục kê kiêm thống kê năm 2005 lập theo tờ bản đồ ghi tên người sử dụng quản lý là "Phạm Văn V1", có chỉnh lý tách thêm thửa số 286, diện tích 175m² cho ông Nguyễn Văn T8 hồ sơ kỹ thuật thửa đất ghi tên chủ sử dụng đất là "Ủy ban"
- - Ngày 03/11/2005, vị trí thửa đất số 112, diện tích 726m² được UBND huyện Tcấp giấy chứng nhận QSDĐ mang tên hộ ông Phạm Văn Vbà Lê Thị N7 vậy thửa đất nguyên bản tên của hộ ông Phạm v1 V3năm 1998, khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ năm 2005 đã được trừ ra 175m² đất của ông Nguyễn Văn T9 06/12/2013, hộ ông V3đã cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích giảm còn 698m².
Phần ngõ tranh chấp thể hiện trên giấy chứng nhận thuộc đất của hộ ông Phạm Văn V1
- Về hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận QSDĐ: Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Phạm Văn V14 2005, Uhiện tại được lưu giữ tại chi nhánh V4
- - Tài liệu năm 1973, chỉnh lý năm 1986:
- Về tài liệu liên quan đến nguồn gốc vị trí thửa đất số 286, tờ bản đồ số 40, địa chỉ khu C thị trấn T(đất hộ ông T6
- - Tài liệu năm 1973, chỉnh lý 1986: (không có).
- - Tài liệu năm 1995:
- + Tờ bản đồ giải thửa số 29 (đo vẽ năm 1995) thể hiện: Thửa đất số 121 (ký hiệu T), diện tích 175m². Thửa đất có ngõ đi ra đường Tphần ngõ đi này kéo dài từ đường Ttiếp giáp với toàn bộ cạnh phía Nam thửa đất (bao gồm phần đất hiện đang tranh chấp). Ngõ đi thể hiện là ngõ tập thể.
- + T5số 92 sổ mục kê đất lập cho tờ bản đồ số 29 thể hiện thửa 121, diện tích 175m² (loại đất thổ cư) ghi tên chủ sử dụng đất là ông “Nguyễn Văn T6(bố ông D
- - Tài liệu năm 1998 thể hiện: Tờ bản đồ địa chính số 40 đo vẽ tháng 5 năm 1998 thể hiện: Thửa đất số 286 (được tách từ thửa số 112), diện tích 175m². Sổ mục kê kèm theo bản đồ ghi chủ sử dụng đất là ông “Nguyễn Văn T10 đất có ngõ đi ra đường Tchỉ tiếp giáp với một phần thửa đất của ông T4không bao gồm phần đất đang tranh chấp.
- - Ngày 15/11/2004, UBND huyện T cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 286, tờ bản đồ số 40, diện tích 175m² cho hộ ông Nguyễn Văn T8 GCN cấp cho hộ ông T4phần diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 112 của hộ ông V
- - Ngày 19/5/2019, hộ ông T4thừa kế, tặng cho con là Nguyễn Văn D7 đất số 286. Thửa đất đã được cấp GCN. Tuy nhiên phần diện tích ngõ đang tranh chấp hiện nay thể hiện trong Giấy chứng nhận của anh Nguyễn Văn D thì mũi tên chỉ vào thể hiện là “đường xóm”.
- - Về hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ: Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận lần đầu năm 2004 cho hộ ông Nguyễn Văn T11 thị trấn T lưu giữ, hiện tại được lưu giữ tại chi nhánh V34 tại chỉ còn hồ sơ lưu về việc thừa kế, tặng cho ông Nguyễn Văn D8 13/8/2019
UBND thị trấn T chính xác lý do thay đổi này vì cán bộ, công chức làm công tác thời điểm đó đã nghỉ công tác. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất luôn có sự biến động làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất của người dân nên việc bản đồ những năm sau có thể thay đổi so với các năm trước. Hơn nữa như đã thông tin ở trên, trong bản đồ năm 1995, thửa đất của hộ ông V15 ở mép ngoài cùng của tờ bản đồ số 28 nên việc xác định ranh giới thửa đất có thể không chính xác.
Theo hồ sơ cấp GCN cho thửa đất của ông Lê Đình T12 ông Lê Đình S3 2004-2005 thể hiện: Phần đất tranh chấp thuộc thửa 112 (thuộc quyền sử dụng của hộ ông V16 xóm chỉ thể hiện trong trích lục thửa đất của ông S4 đặc điểm nằm hoàn toàn ở phía Đông thửa đất của ông S5 dài từ đường Tđến giáp phần đất của ông V17 đồ thửa đất của ông T3không có mặt tiếp giáp ngõ xóm.
Từ khi các hộ dân được cấp GCN (2004-2005) đến trước khi xảy ra tranh chấp giữa ông H10 anh Nguyễn Văn D (tháng 6/2022), các hộ dân không có tranh chấp, khiếu nại gì về việc cấp GCN và việc sử dụng phần ngõ này. Năm 2019, anh Nguyễn Văn D làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 286 từ hộ ông T4sang tên anh Nguyễn Văn D cũng không có khiếu nại gì đối với trích lục địa chính thửa đất trong hồ sơ cấp GCN.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Phạm Ngọc H thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án công nhận diện tích đất theo hiện trạng là ngõ đi thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông; buộc gia đình anh Nguyễn Văn D phải xây bịt lại một phần cổng đã xây dựng và chỉ được sử dụng theo đúng kích thước tiếp giáp ngõ đi của gia đình anh D đã được cấp trên GCNQSDĐ là 2,1m.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn D, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn C8 thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L13 nguyên quan điểm, ý kiến như đã trình bày nêu trên, không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi vì căn cứ vào GCNQSDĐ do UBND huyện T cấp ngày 05/9/2019 thể hiện phần diện tích ngõ đang tranh chấp là “đường xóm” tức là ngõ đi chung nên gia đình anh D9 quyền sử dụng. Tuy nhiên, phía bị đơn đề nghị phía nguyên đơn thỏa thuận để hai bên gia đình sử dụng phần ngõ đi là ngõ đi chung thì phía bị đơn tự nguyên hiến 1m chiều sâu thửa đất, chiều ngang hết phần diện tích thửa đất của bị đơn để mở rộng phần ngõ đi này. Trường hợp phía nguyên đơn không đồng ý, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình sử dụng thửa đất từ khi bố mẹ anh là ông T4bà Lvới gia đình cụ V18 ông H17 bên không có tranh chấp. Tường bao ngăn cách với ngõ đi hiện nay tranh chấp và ngăn với phần đất nhà nguyên đơn là do gia đình bị đơn xây dựng, khi xây tường gia đình anh D10 xây lui vào trong và nắn cong tường tại khúc cua (điểm nút 5-3 trên sơ đồ) để thuận tiện cho gia đình ông Hsử dụng, nay bị đơn vẫn đồng ý với hiện trạng này, không có ý kiến gì. Gia đình bị đơn đề nghị Tòa án công nhận ngõ đi đang tranh chấp là ngõ chung, chỉ có hai gia đình sử dụng và điều chỉnh lại GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Phạm Văn V19 ngõ đi này là “đường xóm” cho phù hợp với GCNQSDĐ đã cấp cho anh D, không yêu cầu hủy GCNQSDĐ mà chỉ yêu cầu đính chính lại cho đúng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm như sau:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã chấp hành đúng các quy định trong quá trình tiến hành tố tụng; các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 147, Điều 157, Điều 165 BLTTDS, căn cứ Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H18 việc: Công nhận ngõ đi có diện tích hiện trạng theo kết quả xem xét thẩm định mà các bên chỉ nhận là 20,28m² nhưng theo hồ sơ ghép bản đồ địa chính, sơ đồ trên GCNQSDĐ và hiện trạng là 20,81m² thuộc thửa đất số 112, tờ bản đồ số 40 tại Khu C, huyện T, thành phố H được UBND huyện Tcấp lại GCNQSDĐ ngày 06/12/2013 cho hộ ông Phạm Văn V11 Lê Thị N1là ngõ đi riêng của gia đình ông Phạm Ngọc H19 chấp nhận yêu cầu của ông H18 việc buộc anh D xây bịt lại một phần cổng đã xây dựng theo đúng kích thước ngõ đi của gia đình anh D đã được cấp trên GCNQSDĐ ngày 05/9/2019. Về án phí sơ thẩm: Bị đơn là anh D11 chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án dân sự về việc: Tranh chấp về quyền sử dụng đất. Tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất ngõ đi chung tại thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án do bị đơn có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết. Sau đó, bị đơn thay đổi quan điểm, không yêu cầu hủy GCNQSDĐ mà chỉ đề nghị Tòa án công nhận ngõ đi đang tranh chấp là ngõ chung và điều chỉnh lại GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Phạm Văn V19 ngõ đi này là “đường xóm” cho phù hợp với GCNQSDĐ đã cấp cho anh D12 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng không thụ lý yêu cầu phản tố là có căn cứ. Quan hệ pháp luật trong vụ án là “tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: UBND huyện T19 vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L14 mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Văn C5; chị Đoàn Thị O5 được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa mở lại lần thứ hai không có lý do, theo anh C9 bày, anh đã thông báo cho vợ là chị O6 về các văn bản tố tụng của Toà án và thời gian xét xử vụ án theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng do bận công việc nên chị Okhông thể tham dự phiên tòa; các bà Phạm Thị BPhạm Thị D1Phạm Thị T13 Phạm Thị Tlvắng mặt có người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Ngọc H có mặt. Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên là có căn cứ.
Về nội dung:
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu xác định ngõ đi theo hiện trạng là ngõ đi riêng của gia đình ông Phạm Ngọc H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3] Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp: Căn cứ kết quả xác minh, thu thập chứng cứ và quan điểm ý kiến của các bên đương sự, tài liệu chứng cứ do UBND thị trấn T cấp, nhận thấy:
Theo hồ sơ quản lý và tờ bản đồ địa chính số 40 đo vẽ tháng 5 năm 1998 và tại địa phương thể hiện:
[3.1] Thửa đất hiện gia đình ông Phạm Ngọc H20 quản lý, sử dụng thuộc thửa đất số 112, diện tích 901m²; Sổ mục kê kiêm thống kê năm 2005 lập theo tờ bản đồ ghi tên người sử dụng quản lý là "Phạm Văn V1", có chỉnh lý tách thêm thửa số 286, diện tích 175m² cho ông Nguyễn Văn T9 03/11/2005, được UBND huyện Tcấp giấy chứng nhận QSDĐ mang tên hộ ông Phạm Văn V11 Lê Thị N1Ngày 06/12/2013, hộ ông V20 đề nghị và được UBND huyện Tcấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích giảm còn 698m² mang tên hộ ông Phạm Văn Vbà Lê Thị N5.
[3.2] Thửa đất hiện gia đình anh Nguyễn Văn D13 Nguyễn Thị L15 chồng anh Nguyễn Văn C10 quản lý, sử dụng thuộc thửa đất số 286 (được tách từ thửa số 112), diện tích 175m². Sổ mục kê kèm theo bản đồ ghi chủ sử dụng đất là ông “Nguyễn Văn T4Ngày 15/11/2004, UBND huyện T cấp GCNQSDĐ, diện tích 175m² cho hộ ông Nguyễn Văn T14 Nguyễn Văn T4chết năm 2006. Ngày 13/8/2019, các thừa kế của ông Thành lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, tặng cho anh Nguyễn Văn D7 đất số 286. Ngày 05/9/2019 UBND huyện T GCNQSDĐ đứng tên anh Nguyễn Văn D.
[4] Hiện trạng ngõ đi đã được thể hiện trên các tài liệu địa chính lưu giữ tại UBND thị trấn T19 qua các thời kỳ và các GCNQSDĐ do UBND huyện T cho các hộ (trừ GCNQSDĐ cấp cho anh D14 2019) đều thể hiện phần ngõ đi tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình ông H Từ khi các hộ dân được cấp GCNQSDĐ (2004-2005) đến trước khi xảy ra tranh chấp giữa ông H10 anh Nguyễn Văn D (tháng 6/2022), các hộ dân không có tranh chấp, khiếu nại gì về việc cấp GCNQSDĐ và việc sử dụng phần ngõ này.
[5] Căn cứ hồ sơ cấp GCNQSDĐ đứng tên hộ gia đình ông Lê Đình T3ông Lê Đình S6 thể hiện phần đất đang tranh chấp giáp ranh với hộ gia đình ông Phạm Văn V21 hộ ông Lê Đình T3ông Lê Đình S7 các hộ gia đình khác không ai có tranh chấp về ngõ đi hay ranh giới, mốc giới với gia đình ông H
[6] Các biên bản xác định ranh giới, mốc giới khi cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình ông Phạm Văn V22 ông Nguyễn Văn T6, anh Nguyễn Văn D đều có chữ ký của các hộ liền kề.
[7] Căn cứ hồ sơ cấp GCNQSDĐ năm 2005 và 2013 cho hộ ông Phạm Văn V1, trích lục bản đồ địa chính, biên bản xác định ranh giới, mốc giới và hiện trạng thửa đất ngày 10 tháng 4 năm 2004 và hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ năm 2013 đều thể hiện phần diện tích ngõ đi đang tranh chấp nằm trong phần diện tích đất được cấp cho hộ ông Phạm Văn V1
[8] Căn cứ vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ năm 2004 cho hộ ông Nguyễn Văn T15 bố đẻ của ông Nguyễn Văn D15 có trích lục bản đồ địa chính, biên bản xác định ranh giới mốc giới ngày 10/4/2004 thể hiện mũi tên chỉ “đường xóm” nằm ở vị trí phía ngoài tính từ đường Trung Lăng giáp hộ ông Lê Đình S1 chạy thẳng vào thửa đất số 286 của gia đình anh D
[9] Năm 2019, sau khi các thừa kế của ông Nguyễn Văn T16 khai thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tặng cho anh Nguyễn Văn D16 sử dụng thửa đất số 286, tờ bản đồ số 40 thì và ngay cả trích lục bản đồ địa chính ngày 22/8/2019 phục vụ việc cấp mới, cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ đứng tên người sử dụng đất là ông Nguyễn Văn D17 thể hiện phần diện tích ngõ đi đang tranh chấp nằm trong phần đất của ông Phạm Ngọc H(nhận thừa kế của hộ ông V23 tên chỉ chú thích “đường xóm” nằm ở phần ngõ đi từ đường Tvào thửa đất số 286 của gia đình anh D
[10] Chỉ có tại sơ đồ thửa đất trên GCNQSDĐ cấp ngày 05/9/2019 đứng tên anh Nguyễn Văn D18 lại thể hiện mũi tên chú thích “đường xóm” chỉ vào phần ngõ đi đang tranh chấp là lối đi vào đất hộ ông Phạm Văn V1.
[11] Theo kết quả xác minh của các hộ dân ở địa phương và chủ sử dụng đất trước khi ông T6(bố ông D19 lý, sử dụng đều thể hiện: Nguồn gốc thửa đất trước đây gia đình anh Nguyễn Văn D quản lý, sử dụng thuộc thửa đất của gia đình cụ V(bố ông Hđã n bán lại và người nhận chuyển nhượng qua các thời kỳ đều sử dụng đất như hiện trạng hiện nay anh Nguyễn Văn D đang sử dụng, có tường bao và cổng đúng vị trí hiện nay. Nhà ông V24 sử dụng ngõ như hiện trạng từ khi nhượng bán đất cho ông Q V1ông Quyền V1bán cho Oông Onhượng lại cho ông C11, ông C2đổi đất cho ông T17 chủ sử dụng đất các thời kì trước đó đều sử dụng ngõ đi từ mặt đường Tthẳng vào thửa đất của họ (số 286 ngày nay) và không có tranh chấp gì với hộ nhà ông V25 ngõ đi này. Thửa đất của gia đình anh D20 sử dụng được kết nối với ngõ xóm đi thẳng từ đường Tvào thửa đất của gia đình anh D21 trước đến nay. Phần tiếp giáp với ngõ tranh chấp các chủ sử dụng đất thời kỳ trước như ông O7 C2đều có hàng rào dâm bụt và sau này gia đình ông T6(bố anh D22 các hộ giáp ranh đều đã xây tường nhà hoặc tường bao ngăn cách với ngõ đi vào nhà ông H21 chủ sử dụng đất qua các thời kỳ và ngay cả gia đình bà L16 Chiện nay đang sử dụng đất cũng không ai sử dụng phần diện tích ngõ này ngoài gia đình ông H22 giới các thửa đất xung quanh ngõ đi đều đã được ngăn cách bởi các tường xây.
[12] Căn cứ vào các vị trí hai thửa đất trước đây và hiện trạng thực tế, trên cơ sở kết hợp, áp với bản đồ giải thửa, bản đồ địa chính năm 1973, chỉnh lý năm 1986, năm 1995 và 1998 do UBND thị trấn quản lý; GCNQSDĐ đã cấp qua các thời kì đối với hai thửa đất, thể hiện như sau:
[12.1] Đối với thửa đất số 286 (hiện do anh Nguyễn Văn D23 tên) phần tiếp giáp với ngõ đi thể hiện: Phía Đông Bắc giáp hộ ông Nguyễn Văn Đ3 sơ đồ tại điểm mốc số 7 là góc tường bao, theo các đương sự không có tranh chấp về mốc giới này giữa gia đình anh D24 gia đình ông Đ4 xác định hai bên sử dụng ổn định điểm mốc số 7 này; phía Đông Nam: từ điểm mốc số 7 đến điểm mốc số 8 giáp ngõ đi ra đường T: Trên GCNQSDĐ đã cấp thể hiện có kích thước dài 2,1m (điểm số 7 đến 7-1); hiện trạng từ điểm mốc số 7 đến trụ cổng về phía Tcó kích thước là 3,1m; (từ điểm mốc số 7, 7-1 đến 8) là phần cổng mở rộng là 2,6m (trong đó từ điểm mốc số 7 đến 7-1 là 2,1m); từ điểm mốc số 8 đến điểm mốc 8-1 tiếp giáp ngõ đi đang tranh chấp: Trên hồ sơ cấp GCNQSDĐ ghi giáp đất anh D có kích thước 8,0m; hiện trạng là 7,5m cộng với phần góc tường xây vát cong để thuận lợi cho ngõ đi khi sử dụng tại điểm mốc 8-1 đến 5-3 là 1,15m, cộng là 8,65m
[12.2] Đối với thửa số 112, phần ngõ đi tranh chấp thể hiện: Phía Đông Bắc giáp ngõ đi chung ra đường Tmột điểm mốc số 8 giáp thửa đất nhà anh D25 điểm mốc số 9 giáp tường nhà ông Lê Đình S8 điểm mốc số 8 đến mốc số 9: Trên GCNQSDĐ thì (điểm mốc 7-1, 9) và hiện trạng (điểm mốc 8,9) đều thể hiện kích thước 2,2m; phía Đông Nam giáp hộ ông Lê Đình S7 ông Lê Đ5 T3tại điểm mốc số 9 đến điểm mốc số 10: Trên GCNQSDĐ có kích thước là 5,3 + 3,73 = 9,03m; hiện trạng là 9,26m (=7,43m + 1,83m).
Như vậy đã xác định được phần chỉ nhận của các bên theo hiện trạng tại kết quả xem xét thẩm định gồm các mốc giới (8, 9, 9-1, 10, 11, 12, 5-3, 8-1, 8) có diện tích là 20,28 m². Tuy nhiên khi kết hợp với GCNQSDĐ và bản đồ địa chính với hiện trạng hiện nay đã thể hiện được kích thước và vị trí khu ngõ tranh chấp các bên có quyền sử dụng được công nhận gồm có các điểm mốc như sau: (7-1, 9, 9-1, 10, 11, 12, 5-3, 8-1, 8, 7-1) có diện tích là 20,81 m² (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
[13] Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào các tài liệu địa chính qua các thời kỳ và lịch sử hình thành, sử dụng ngõ đi, kết quả xác minh thu thập chứng cứ, và hiện trạng sử dụng ngõ đi, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định diện tích ngõ đi đang có tranh chấp thuộc thửa đất số 112 do gia đình cụ Vcụ N1 thuộc quyền quản lý, sử dụng riêng mà không phải là ngõ đi chung với thửa đất số 286 thuộc quyền sử dụng của hộ ông Nguyễn Văn T18 đây nay đứng tên chủ sử dụng đất là anh Nguyễn Văn D. Khi xây dựng tường bao vây quanh thửa đất nhà mình, ông T4cũng đã xây kín phần giáp với ngõ đi vào nhà ông H và chỉ mở cổng đúng với kích thước được cấp là 2,1m cho đến năm 2022 sau khi sửa chữa ngõ đi và làm đường thoát nước thì nhà anh C12 mở rộng cổng như hiện trạng hiện nay và hai bên mới phát sinh tranh chấp.
[13] Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, các bên đã xác nhận các mốc giới trên thực địa đơn vị đo vẽ do Công ty cổ phần T20 đã tiến hành đo vẽ chi tiết từng vị trí cụ thể trên cơ sở xác định với vị trí chỉ nhận của các đương sự và ghép bản đồ địa chính, sơ đồ trên các GCNQSDĐ đối với từng thửa đất của hai bên. Ngõ đi hiện trạng đang tranh chấp được ngăn cách bởi tường bao của nhà anh D22 tường nhà ông Sông T Khi xây dựng tường bao ngăn cách với phần ngõ đi tranh chấp và phần đất với nhà cụ V(nhà ông H23 đình anh D10 tự nguyện xây lùi và nắn cắt cong tại điểm mốc 5-3 trên sơ đồ cho gia đình ông H24 tiện trong quá trình sử dụng, đây là sự tự nguyện của các bên, cần ghi nhận nên hiện trạng ngõ tranh chấp sau khi ghép sơ đồ trên GCNQSDĐ, bản đồ địa chính với hiện trạng hiện nay đã thể hiện được kích thước và vị trí khu ngõ tranh chấp các bên có quyền sử dụng được công nhận gồm có các điểm mốc như sau: (7-1, 9, 9-1, 10, 11, 12, 5-3, 8-1, 8, 7-1) có diện tích là 20,81 m² (có sơ đồ chi tiết kèm theo) thuộc quyền sử dụng trong thửa đất số 112 mà UBND huyện T cấp cho hộ ông Phạm Văn V1
Các đương sự đều thừa nhận hiện trạng có thay đổi do biến động trong quá trình sử dụng đất và các hộ liền kề đều đã có tường ngăn cách với phần diện tích ngõ mà không tranh chấp về ranh giới, mốc giới và không có ý kiến gì về hiện trạng diện tích toàn thửa đất của mỗi hộ và đề nghị giải quyết theo hiện trạng là có căn cứ, cần ghi nhận.
1. [15] Từ những phân tích và nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Ngọc H25 với anh Nguyễn Văn D26 việc xác định ngõ đi theo hiện trạng hiện nay có diện tích là 20,81 m² gồm có các điểm mốc như sau: (7-1, 9, 9-1, 10, 11, 12, 5-3, 8-1, 8, 7-1) - có sơ đồ chi tiết kèm theo, nằm trong thửa đất số 112 tờ bản đồ số 40 tại khu C, huyện T, thành phố H quyền sử dụng của hộ cụ Phạm Văn V22 cụ Lê Thị N5. Nay ông Phạm Văn V26 chết, ông Phạm Ngọc H26 con trai và thuộc diện thừa kế của cụ Phạm Văn V27 kiện, các thừa kế khác gồm có: cụ Lê Thị N8 bà Phạm Thị BPhạm T2 D1Phạm Thị TPhạm Thị T1và Phạm Thị M1 nhất với yêu cầu khởi kiện của ông H18 việc yêu cầu công nhận diện tích hiện trạng ngõ đi đang tranh chấp là ngõ đi riêng của gia đình ông H26 có căn cứ, cần chấp nhận.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn và bà Nguyễn Thị Lông Nguyễn Văn C13 chị Đoàn Thị O8 được sử dụng mở cổng theo kích thước trên sơ đồ đã được cấp trên GCNQSDĐ là 2,1m trong khi hiện trạng gia đình ông Nguyễn Văn D27 cổng có kích thước chiều ngang là 3,0m nên phải xây bịt một phần cổng và không được mở cổng ra phần ngõ đi riêng của gia đình ông Phạm Ngọc H, Hội đồng xét xử xét thấy:
[16] Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Dân sự thì gia đình anh D được quyền sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác nên như đã nhận định ở trên, diện tích ngõ đi đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ cụ Phạm Văn V28 là các thừa kế của cụ V(gia đình ông H27 anh D22 gia đình anh D2 bà L15 chồnganh Cchị O9 được sử dụng ngõ đi thuộc quyền sử dụng của gia đình ông H4 Nhận thấy, hiện nay gia đình anh D27 cổng nhưng nằm trên phần diện tích đất được quyền sử dụng theo GCNQSDĐ đã cấp theo chiều thẳng đứng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là anh Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Lanh Nguyễn Văn C14 chị Đoàn Thị O10 xây bịt một phần cổng trên phần đất thuộc quyền sử dụng gia đình anh Nguyễn Văn D. Khi Bản án có hiệu lực pháp luật các bên sử dụng đúng phần diện tích đất mà mình được quyền sử dụng và việc mở cổng, mở cửa phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
[17] Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP423487, vào sổ cấp GCN: CH 05010 ngày 06/12/2013 cấp cho hộ ông Phạm Văn Vbà Lê Thị N5: Trước đây, tại Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, bị đơn là anh Nguyễn Văn D có ý kiến yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cho hộ ông VTuy nhiên, tại giai đoạn chuẩn bị xét xử bị đơn thay đổi, không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Tcấp cho hộ ông V29 đề nghị điều chỉnh GCNQSDĐ trên đối với phần ngõ đi nằm trong phần đất của hộ ông V30 ngõ đi chung của hộ ông V22 hộ anh D nên Tòa án không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ. Tuy nhiên, như đã nhận định ở trên, các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Phạm Văn V31 Nguyễn Văn T4và anh Nguyễn Văn D28 thể hiện trên trích đo thửa đất, xác định diện tích ngõ đi đang tranh chấp thuộc thửa đất số 112 do gia đình ông H20 quản lý, sử dụng riêng. Chỉ có sơ đồ thửa đất trên GCNQSDĐ số CS198473 ngày 05 tháng 9 năm 2019 do UBND huyện T cấp đứng tên anh Nguyễn Văn D18 phần chú giải có mũi tên chỉ “đường xóm” lại chỉ vào phần diện tích ngõ của nhà ông H26 sai, không đúng thực tế cũng như hồ sơ địa chính, GCNQSDĐ đã cấp lưu giữ qua các thời kỳ. Do đó, để không ảnh hưởng đến quyền sử dụng hợp pháp của mỗi gia đình, các đương sự có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền đính chính, điều chỉnh lại GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.
[18] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đáng lẽ nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nhưng do ông Phạm Ngọc H28 đối tượng người cao tuổi nên được miễn án phí; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[19] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 37; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các điều 202, 203 của Luật Đất đai;
Căn cứ Điều 12, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc H25 với anh Nguyễn Văn D: Xác định ngõ đi theo hiện trạng hiện nay có diện tích là 20,81 m² gồm có các điểm mốc: 7-1, 9, 9-1, 10, 11, 12, 5-3, 8-1, 8, 7-1 nằm trong thửa đất số 112 tờ bản đồ số 40 tại khu C, huyện T, thành phố H quyền sử dụng của hộ cụ Phạm Văn V22 cụ Lê Thị N5(nay là các thừa kế của cụ V32 có: cụ L20 bà Phạm Thị BPhạm T2 D1Phạm Thị TPhạm Thị T1và Phạm Thị M (có sơ đồ chi tiết kèm theo), đã được UBND huyện T lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP423487; số vào sổ cấp GCN: CH05010 ngày 06 tháng 12 năm 2013.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc H29 việc buộc anh Nguyễn Văn Dbà Nguyễn Thị L17 Nguyễn Văn C14 chị Đoàn Thị O10 xây bịt một phần cổng và chỉ được sử dụng mở cổng theo kích thước là 2,1m.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Ngọc H30 miễn án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- Ông Phạm Ngọc H31 Lê Thị N1và các bà: Phạm Thị BPhạm Thị MPhạm Thị D1Phạm Thị TPhạm Thị T21 quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
- UBND huyện Tvà chị Đoàn Thị O11 quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Vân Thúy |
Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 42/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc H - Nguyễn Văn D Tranh chấp về quyền sử dung đất
