|
TAND HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 22/8/2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Doãn
Ông Phan Văn Lâm
+ Tại điểm cầu trung tâm: Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
+ Tại điểm cầu thành phần: Thư ký phiên tòa: Bà Trương Mỹ D - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Ngô Tiến D1 - Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Bùi Thanh H - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa (Điểm cầu trung tâm); Nhà tạm giữ Công an huyện H (Điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn T; sinh ngày 08/01/2000 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V (đã chết) và bà Bùi Thị T1; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/05/2024, đến ngày 04/05/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
* Người chứng kiến:
- Ông Tăng Xuân Đ, sinh năm 1957. Vắng mặt.
2. Ông Vũ Ngọc C, sinh năm 1957. Vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
* Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Văn Đ1 và ông Đỗ Tất S - Cán bộ hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự, Công an huyện H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 45 phút ngày 02/5/2024, tại khu vực nghĩa địa thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Tổ công tác Đồn Biên phòng Đ3 chủ trì, phối hợp với Công an xã Đ đang thực hiện nhiệm vụ thì phát hiện Nguyễn Văn T, sinh năm 2000, cư trú ở thôn P, xã H, huyện H đi bộ vào trong nghĩa địa có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu T đứng lại để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện ở tay phải T đang cầm 01 gói giấy màu trắng kích thước khoảng 01cm x 02cm, bên trong gói giấy có chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn - T khai nhận đó là H1 mua về để sử dụng. Quá trình bắt giữ quả tang và niêm phong vật chứng, Tổ công tác đã mời ông Vũ Ngọc C, sinh năm 1957 và ông Tăng Xuân Đ, sinh năm 1957, cùng cư trú ở thôn N, xã Đ chứng kiến.
Cùng ngày 02/5/2024, Đồn Biên phòng Đ3 đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T nhưng không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ việc.
Cùng ngày 02/5/2024, Đồn Biên phòng Đ3 ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 03/QĐ-TCGÐ - trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định vật chứng đã thu giữ. Tại Kết luận giám định số 1751/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,281 gam, loại Heroine (H).
Nguyễn Văn T đã được thông báo nội dung kết luận giám định, đồng ý với kết luận giám định và không có ý kiến hay đề nghị gì.
Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, T đi bộ từ nhà ra khu vực đê biển thuộc địa phận xã H, huyện H để tìm mua ma túy về sử dụng. T gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nhưng T đã từng mua ma túy của người này. T hỏi mua 400.000 đồng ma túy thì người này đồng ý bán. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đưa cho T 01 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có Heroine. T cầm gói ma túy vừa mua được đi bộ đến khu vực nghĩa địa thuộc địa phận thôn N, xã Đ để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng Đ3 kiểm tra, phát hiện, bắt giữ quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; lời khai nhận tội phù hợp với các tài liệu đã được điều tra, thu thập trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,260 gam chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M1 - Tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để thi hành án theo quyết định của bản án.
Cáo trạng số 45/CT-VKSHL ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên, sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (02/05/2024).
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 02/05/2024 tổ công tác của Đồn biên phòng Đ3 - Bộ đội Biên phòng tỉnh T chủ trì, phối hợp với Công an xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa thực hiện nhiệm vụ tại địa phận thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T về hành vi đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy - T khai nhận đó lá H1 mua về để sử dụng. Quá trình bắt giữ quả tang, lập biên bản và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 1751/KL-KTHS ngày 03/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì kí hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,281g (không phẩy hai tám một gam) loại Heroine (H)”.
Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người, làm thui chột thế hệ tương lai, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội và cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: HĐXX nhận định, trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Từ những nhận định nêu trên, HĐXX cần lên cho bị cáo một mức hình phạt tù nghiêm, nhưng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo. Song, HĐXX cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bản thân bị cáo chưa phạm tội lần nào, hoàn cảnh gia đình bị cáo bố đã chết, em gái lấy chồng xa, còn mẹ sống một mình khi bị cáo phải chấp hành hình phạt tù. Do vậy lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo yên tâm cải tạo tốt và sớm trở với gia đình, hòa nhập với cộng đồng, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản thân là người nghiện ma tuý. Do đó HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Trong vụ án này đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T, Cơ quan cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ để xác định tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm là phù hợp.
[6] Về vật chứng: HĐXX nhận thấy, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất bột màu trắng dạng cục vụn còn lại sau giám định theo quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
[7] Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX xử phạt mức án thấp nhất để bị cáo chấp hành và cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập với cộng đồng làm công dân chấp hành pháp luật tốt; người chứng kiến: đã ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến, trình bày trung thực về những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 02/05/2024).
Vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ghi Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong đựng các mẫu vật còn lại sau giám định, có đóng 05 dấu đỏ và chữ ký của Nguyễn Trần Đ2 và Bùi Văn T2. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/07/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS, bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tạ Văn Tuyển |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
