|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày: 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hoan và ông Bùi Quang Sơn.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thuỷ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Bình, bà Nguyễn Thị N - Kiểm sát viên.
- Người hỗ trợ tổ chức phiên toà tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, gồm:
+ Người tiến hành tố tụng: Bà Đặng Thị Phương K - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện T, tỉnh Hải Dương. Ông Nguyễn Xuân B - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
+ Người tham gia tố tụng hỗ trợ tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Văn B1 - Cán bộ, Trại tạm giam Công an tỉnh H.
Ngày 22/5/2024 tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện T, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 21/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 01/2024/TB-TA ngày 14/5/2024, đối với các bị cáo:
- NGUYỄN VĂN K1 sinh năm 1954 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; vợ là Nguyễn Thị P và có bốn con; tiền án: Bản án số 63/2017/HS-ST ngày 28/7/2017 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt K2 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, nộp án phí ngày 07/11/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/4/2019; Bản án số 29/2021/HS-ST ngày 24/6/2021 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, xử phạt K2 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2023; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 05/01/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên toà.
- NGUYỄN TRỌNG NAM sinh năm 1972 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng G và bà Nguyễn Thị D, tên khác là Nguyễn Thị D1; tiền án: Bản án số 42/2015/HS-ST ngày 27/8/2015 của TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt N1 01 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc, hình phạt bổ sung 15.000.000đ, phải chịu 200.000đ án phí (chưa nộp tiền đối với hình phạt bổ sung, án phí), chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2016; về nhân thân: Bản án số 34/2009/HS-ST ngày 17/6/2009 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt N1 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2011, nộp án phí ngày 29/7/2009; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 05/01/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo K2: Bà Nguyễn Thị C, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức T2, anh Nguyễn Trọng L, vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 04/01/2024, Nguyễn Trọng N2 điều khiển xe mô tô Honda Wave anpha, biển kiểm soát 34B4-777.62 đến nhà Nguyễn Văn K3 ở thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương và rủ K3 đi mua ma tuý, mục đích để cùng nhau sử dụng. N2 đưa K3 500.000đ và điều khiển xe mô tô chở K3 đến thôn X, xã T để mua ma tuý. Tại đây, K3 và N2 mua được 03 gói giấy bạc chứa chất bột, dạng cục, màu trắng của người không quen biết với giá 500.000đ. Khoảng 11 giờ 40 phút, ngày 04/01/2024 khi K3, N2 đang đi trên đường thuộc thôn X, xã T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của K3 01 túi nilon, kích thước 5cm x 10cm, bên trong có 03 gói giấy bạc đều chứa chất bột, dạng cục, màu trắng, K3, N2 thừa nhận là ma tuý, loại Heroine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Tại Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của phòng K4, Công an tỉnh H, kết luận: Chất bột, dạng cục, màu trắng trong 03 gói giấy màu bạc được niêm phong trong phong bì ghi thu của K3 có tổng khối lượng là 0,252 gam là ma tuý, loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSHD-TH ngày 19/3/2024, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, truy tố K3 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS). Truy tố N2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo K3 đều công nhận quyết định truy tố là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố các bị cáo K3, N2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của BLHS, đối với K3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của BLHS, đối với N2. Xử phạt K3 từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù; N2 từ 18 đến 21 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng được hoàn lại sau giám định. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo K3. Bị cáo N2 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về chứng cứ xác định bị cáo K3, N2 có tội và điều luật áp dụng: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 40 phút, ngày 04/01/2024 tại thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, K3 và N2 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,252 gam là ma tuý, loại Heroine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Xét các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép 0,252 gam là ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Trong vụ án này, hành vi của N2 đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Về hành vi của K3, HĐXX xác định: Tại các bản án số 63/2017/HS-ST ngày 28/7/2017 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, xử phạt K3 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, nộp án phí ngày 07/11/2017, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/4/2019 và bản án số 29/2021/HS-ST ngày 24/6/2021 đều của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, tại bản án này đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS và xử phạt K3 30 tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2023, đến nay K3 chưa được xoá án tích, nay K3 tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên lần phạm tội này của K3 thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm, theo điểm o khoản 2 Điều 249 của BLHS. Như vậy, quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về xác định vụ án đồng phạm: Đây là vụ án đồng phạm, thuộc trường hợp giản đơn. Trong đó, N2 là người giữ vai trò chính, khởi xướng, đưa 500.000đ cho K3 và điều khiển xe mô tô chở K3 đi mua ma tuý về để sử dụng, nên giữ vị trí, vai trò thứ nhất. Đối với K3, khi N2 rủ và đưa 500.000đ để mua ma tuý về sử dụng đã không do dự, đồng ý ngay; trực tiếp mua ma tuý, nên giữ vị trí, vai trò thứ hai trong vụ án.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định: Các bị cáo là người nhân thân xấu, đã bị Toà án kết án, trong đó có tội phạm về ma tuý. Trong vụ án này, bị cáo K3 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo N2, HĐXX thấy rằng tại bản án số 42/2015/HS-ST ngày 28/7/2015 của TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc, phạt bổ sung 15.000.000đ và phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa thi hành hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm, chưa được xoá án tích, nay bị cáo lại thực hiện hành phạm tội do lỗi cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Tại thời điểm xét xử bị cáo K3 là người đủ 70 tuổi, có công với cách mạng, mẹ của bị cáo được tặng thưởng Bằng khen, nên K3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo điểm o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, độ tuổi, nghề nghiệp của các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không đáng kể, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
[6.1]. Đối với 0,208 gam Heroine; 03 mảnh giấy màu bạc; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật, được hoàn lại sau giám định. Xét đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị, nên tịch thu, tiêu hủy.
[6.2]. Đối với xe mô tô Honda Wave anpha, biển kiểm soát 34B4-777.62 là tài sản của anh L, anh L cho N2 mượn để làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương đã trả lại xe mô tô cho anh L, nên HĐXX không đặt ra để xem xét.
[7]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo K3 là người cao tuổi, có công với cách mạng, nên HĐXX xem xét miễn 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Về các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho các bị cáo, quá trình điều tra chưa làm rõ được tên tuổi, địa chỉ, nên tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Văn K3.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Trọng N2.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K3 và Nguyễn Trọng N2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
-
Về hình phạt:
- 2.1 - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K3 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
- 2.2 - Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N2 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 0,208 gam Heroine; 03 mảnh giấy màu bạc; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật, được hoàn lại sau giám định.
Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, ngày 22/3/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo N2 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo K3.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đến nay Khôi chưa được xoá án tích, nay Khôi tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên lần phạm tội này của Khôi thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm, theo điểm o khoản 2 Điều 249 của BLHS
