Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 42/2024/HSST

Ngày: 21/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Duật và ông Phan Huy Hoàng.
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Tứ- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa:
Ông Trần Quốc Đại- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số E đường Đ, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 02/8/2024, Thông báo chuyển ngày xét xử số 272/2024/TB-TA ngày 14/8/2024 đối với bị cáo:

Lê Hoàng Quang T; sinh ngày 25/6/2006 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Quang T1 và bà Hoàng Thị Kim L; vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/4/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Quang T: Ông Hồ Ngọc L1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Hoàng Quang T: Ông Lê Quang T1, sinh năm 1972 và bà Hoàng Thị Kim L, sinh năm: 1971 (là cha mẹ đẻ bị cáo T); cùng có địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, ông T1 vắng mặt, bà L có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Bùi Thị Nguyên H, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  2. Bà Hoàng Thị Kim L, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Người làm chứng:

Anh Trịnh Châu T2, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27 tháng 01 năm 2024, tại sân vận động B thị xã H thuộc phường T, thị xã H, tỉnh T, Công an phường T bắt quả tang Lê Hoàng Quang T đang có hành vi bán 01 bao thuốc lá bên trong có 07 điếu thuốc nghi có chất ma túy cho Trịnh Châu T2.

Quá trình điều tra xác định, Lê Hoàng Quang T biết một người phụ nữ tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán thuốc lá có tên gọi BOM, trong thành phần có chứa ma túy ADB-BUTINACA nên T đặt mua 10 gói thuốc lá với giá 2.150.000 đồng. Đặc điểm của gói thuốc có tên gọi BOM này là bên trong mỗi bao thuốc có 07 điếu thuốc giống điếu thuốc lá thông thường, bên trong mỗi điếu thuốc chứa mẫu thực vật khô (cắt nhỏ dạng sợi), bao thuốc có họa tiết nhiều màu sắc, bên ngoài có dòng chữ “AMSTERDAM” bọc ni lông dán kín. Sau khi mua 10 gói thuốc lá, T cất giấu tại nhà ở thuộc Tổ dân phố D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm mục đích bán cho những người có nhu cầu sử dụng. Mỗi điếu thuốc Tân bán với giá 80.000 đồng, nếu mua nguyên bao (07 điếu) thì Tân bán với giá 400.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ 18 phút ngày 27 tháng 01 năm 2024, Trịnh Châu T2 mượn điện thoại di động Iphone 7 Plus của Bùi Thị Nguyên H, sử dụng mạng xã hội Messenger nhắn tin cho T thông qua máy Iphone 11 của bà Hoàng Thị Kim L (mẹ của T) hỏi mua 01 bao thuốc lá BOM. T hẹn T2 gặp tại sân vận động bóng đá thị xã B để tiến hành giao dịch, mua bán ma túy rồi dùng xe mô tô BKS 75AD-004.96 của bà L đi đến địa điểm đã hẹn với T2. Khi T và T2 đang tiến hành mua bán số thuốc lá có chứa chất ma túy trên thì bị Công an phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Quá trình làm việc, T đã tự nguyện giao nộp 08 bao thuốc lá BOM có đặc điểm nêu trên được cất giấu tại nhà T, trong đó có 07 bao thuốc lá còn nguyên vẹn, 01 bao thuốc lá đã qua sử dụng bên trong còn lại 05 điếu thuốc.

Vật chứng vụ án:

Vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu: 01 xe mô tô nhãn hiệu: ESPERO, màu đen BKS: 75AD – 004.96; 01 điện thoại di động IPHONE 11; 01 điện thoại di động IPHONE 7 PLUS.

Vật chứng tạm giữ: 01 túi niêm phong dán kín có số 365/KL-KTHS bên trong có chứa mẫu thực vật khô (cắt nhỏ dạng sợi), tổng khối lượng 52,48g. Bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện Khoa học Hình sự Bộ C tại thành phố Đà Nẵng; các chữ ký, chữ viết ghi họ và tên: Trần Thị D và Võ Trung H1; 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS2A 053581 bên ngoài có chữ viết nội dung: Hoàn mẫu vật vụ Lê Hoàng Quang T, bắt ngày 27/01/2024 (bao gói, đầu lọc, giấy gói, vật liệu dán để niêm phong), 03 dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, 02 chữ ký và chữ viết của Giám định viên Trần Nam, 01 chữ ký và chữ viết của Điều tra viên Võ Trung H1.

Tại Bản kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

“Mẫu gửi giám định đều có thành phần nghi chất ma túy. Phòng K Công an tỉnh T không đủ phương tiện, chất chuẩn để xác định thành phần nghi là chất ma túy đó có phải là ma túy hay không".

Tại Bản kết luận giám định số 365/KL-KTHS ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Phân viện khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:

“Mẫu thực vật khô (cắt nhỏ dạng sợi) trong niêm phong gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy ADB-BUTINACA ở dạng vết.

ADB-BUTINACA ở dạng vết là hàm lượng thấp dưới giới hạn định lượng của phương pháp nên không xác định được hàm lượng cũng như khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong mẫu”.

Ngày 17/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H có Công văn số 283 yêu cầu Phân viện Khoa học Hình sự Bộ C tại Đà Nẵng cung cấp thông tin hiện nay Phân viện Khoa học Hình sự Bộ C có phương pháp thực hiện giám định nào khác để xác định được hàm lượng, cũng như khối lượng đối với mẫu vật được gửi giám định không? Nếu không thi giải thích rõ để Cơ quan Cảnh sát điều tra có hướng xử lý vụ án.

Ngày 27/6/2024 P Bộ C tại Đà Nẵng có Công văn số 261/C09C-Đ2 trả lời như sau: “Tại Kết luận giám định số 365/KL-KTHS đã nêu rõ phương pháp thực hiện giám định: “Phản ứng màu; sắc ký khí khối phổ (GC-MS)”. Đây là phương pháp tối ưu nhất mà Giám định viên của C09C lựa chọn để thực hiện giám định đối với các mẫu vật mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H gửi giám định (dựa trên các phương tiện, thiết bị hiện có). Ngoài ra, C09C không có phương pháp nào khác để giám định đối với các mẫu vật trên”.

Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 túi niêm phong dán kín có số 365/KL-KTHS bên trong có chứa mẫu thực vật khô (cắt nhỏ dạng sợi), tổng khối lượng 52,48g; 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS2A 053581. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hoàng Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Lê Hoàng Quang T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng Quang T từ 09 đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 túi niêm phong dán kín có số 365/KL-KTHS bên trong có chứa mẫu thực vật khô (cắt nhỏ dạng sợi), tổng khối lượng 52,48g; 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS2A 053581.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Quang T trình bày:

Do bị cáo chưa thành niên nên có hành động nông nổi, bản thân bị cáo khi test ma túy thì âm tính, chưa có dấu hiệu nghiện hút; quá trình học tập khá, chăm ngoan; có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo thủ tục chung.

[2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Hoàng Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 27 tháng 01 năm 2024 tại sân vận động thị xã B thuộc phường T, thị xã H, tình T, Lê Hoàng Quang T đã có hành vi bán cho Trịnh Châu T2 01 bao thuốc lá điếu có tổng trọng lượng 7,69 gam bên trong có chứa chất ma túy ADB-BUTINACA, đồng thời cất giấu trái phép tại nhà ở thuộc Tổ dân phố D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế 54 điếu thuốc lá tổng trọng lượng 61,43 gam bên trong có chứa chất ma túy ADB-BUTINACA mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy để mua bán của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Lê Hoàng Quang T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội quả tang, bị cáo còn khai thêm số lượng ma túy đang cất giữ thể hiện việc tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, huỷ hoại sức khoẻ, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng các quy định xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân tốt, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

[7] Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Quang T có đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, thấy rằng:

Mặc dù khi phạm tội, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, bị cáo còn trẻ nhưng đã không chịu khó học tập, tu dưỡng rèn luyện đạo đức, lao động hoặc làm ăn chính đáng có thu nhập mà có hành vi sử dụng ma túy, đồng thời mua bán ma túy là thể hiện sự nguy hiểm, liều lĩnh và coi thường pháp luật, hành vi của bị cáo làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma tuý; việc cách ly bị cáo ra xã hội là cần thiết, không những răn đe bị cáo mà còn có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội, đảm bảo chính sách pháp luật nghiêm khắc đối với loại tội phạm ma túy trong tình hình hiện nay. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma tuý mà Cơ quan điều tra Công an thị xã H đã chuyển giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã H là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu: ESPERO, màu đen BKS: 75AD – 004.96 và 01 điện thoại Iphone 11 mà Lê Hoàng Quang T sử dụng để liên lạc và đến địa điểm giao ma túy cho Trịnh Châu T2, là tài sản thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị Kim L, (mẹ của bị cáo). Bà L không biết việc T sử dụng để liên lạc và bán ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H không xử lý bà L và ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bà Hoàng Thị Kim L là đúng pháp luật. Tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với điện thoại di động Iphone 7 Plus là tài sản thuộc sở hữu của chị Bùi Thị Nguyên H được Trịnh Châu T2 sử dụng để trao đổi, giao dịch mua bán ma túy với Lê Hoàng Quang T vào ngày 27/01/2024. Chị H không biết việc T2 mượn điện thoại để sử dụng vào mục đích mua bán ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H không xử lý chị H và ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Bùi Thị Nguyên H là đúng pháp luật. Tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với người phụ nữ có tên N đã bán ma túy cho Lê Hoàng Quang T do không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục kiểm tra, xác minh để xử lý theo quy định.

[10] Đối với Trịnh Châu T2 đã có hành vi mua ma túy của Lê Hoàng Quang T: T2 biết rõ gói thuốc tên “BOM” có chứa ma túy và mục đích mua ma túy là để sử dụng. Tại thời điểm bắt quả tang, T chưa giao ma túy cho T2. Mặt khác, kết quả trưng cầu giám định không xác định được hàm lượng cũng như khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong 07 điếu thuốc lá thu giữ sử dụng trái phép chất ma tuý khi Công an bắt quả tang. T2 không có hành vi khác giúp sức cho T trong việc mua, tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đồng phạm với T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hoặc tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Công an thị xã H đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với T2 là đúng theo quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Lê Hoàng Quang T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi niêm phong dán kín có số 365/KL-KTHS bên trong có chứa mẫu thực vật khô (cắt nhỏ dạng sợi), tổng khối lượng 52,48g; 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS2A 053581.

(Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Hoàng Quang T.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh TTHuế;
  • -Sở Tư pháp tỉnh TTHuế;
  • -Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế;
  • -Công an thị xã Hương Trà;
  • -VKSND thị xã Hương Trà;
  • -THA HS, THA DS;
  • -Bị cáo, đại diện hợp pháp của BC
  • -Người bào chữa;
  • -Người CQLNVLQ;
  • -Lưu.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Huế

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma tuý, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, huỷ hoại sức khoẻ, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi phạm tội, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân tốt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Quang T cho rằng:

Bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm t khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy rằng: lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra chỉ thể hiện sự thành khẩn, ăn năn hối cải, là tình tiết độc lập được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không phải là hành vi giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới. Do đó, Hội đồng xét xử không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm t Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo tuy là học sinh, chưa đến tuổi trưởng thành nhưng đã sớm có hành vi mua bán, giao dịch ấn định giá mua và bán để kiếm lời, thể hiện sự xem thường pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của người bào chữa về việc áp dụng Điều 65, Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo và cho bị cáo được hưởng án, mà cần phải xử nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo.

Do khi phạm tội, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ, bị cáo sinh ngày 25/6/2006, thực hiện hành vi mua bán ma túy vào ngày 27 tháng 01 năm 2024 là thời điểm chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 07 tháng 02 ngày) nên được hưởng chính sách về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và yên tâm cải tạo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma tuý mà Cơ quan điều tra Công an thị xã H đã chuyển giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã H là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu: ESPERO, màu đen BKS: 75AD – 004.96 và 01 điện thoại Iphone 11 mà Lê Hoàng Quang T sử dụng để liên lạc và đến địa điểm giao ma túy cho Trịnh Châu T2, là tài sản thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị Kim L, (mẹ của bị cáo). Bà L không biết việc T sử dụng để liên lạc và bán ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H không xử lý bà L và ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bà Hoàng Thị Kim L là đúng pháp luật. Tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với điện thoại di động Iphone 7 Plus là tài sản thuộc sở hữu của chị Bùi Thị Nguyên H được Trịnh Châu T2 sử dụng để trao đổi, giao dịch mua bán ma túy với Lê Hoàng Quang T vào ngày 27/01/2024, H không biết việc T2 mượn điện thoại để sử dụng vào mục đích mua bán ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H không xử lý chị H và ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Bùi Thị Nguyên H là đúng pháp luật. Tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với người phụ nữ có tên N đã bán ma túy cho Lê Hoàng Quang T do không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục kiểm tra, xác minh để xử lý theo quy định.

[8] Đối với Trịnh Châu T2 đã có hành vi mua ma túy của Lê Hoàng Quang T: T2 biết rõ gói thuốc tên “BOM” có chứa ma túy và mục đích mua ma túy là để sử dụng. Tại thời điểm bắt quả tang, T chưa giao ma túy cho T2. Mặt khác, kết quả trưng cầu giám định không xác định được hàm lượng cũng như khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong 07 điếu thuốc lá thu giữ sử dụng trái phép chất ma tuý khi Công an bắt quả tang. T2 không có hành vi khác giúp sức cho T trong việc mua, tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đồng phạm với T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hoặc tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Công an thị xã H đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với T2 là đúng theo quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Lê Hoàng Quang T ........tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách ........ năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Hoàng Quang T cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Hoàng Quang T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lê Hoàng Quang T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi niêm phong dán kín có số 365/KL-KTHS bên trong có chứa mẫu thực vật khô (cắt nhỏ dạng sợi), tổng khối lượng 52,48g; 01 túi niêm phong dán kín có mã số PS2A 053581.

(Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Hoàng Quang T.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh TTHuế;
  • -Sở Tư pháp tỉnh TTHuế;
  • -Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế;
  • -Công an thị xã Hương Trà;
  • -VKSND thị xã Hương Trà;
  • -THA HS, THA DS;
  • -Bị cáo, đại diện hợp pháp của BC
  • - Người bào chữa;
  • -Người CQLNVLQ
  • -Lưu.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 42/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger