Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 06 - 2024

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Dương
  2. Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thi Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2024/TLST – HNGĐ ngày 08 tháng 04 năm 2023 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị P – Sinh năm: 1985
  • - Bị đơn: Anh Lê Quang Đ - Sinh năm: 1985
  • Đều có địa chỉ: Thôn V, xã P, tx. N, Thanh Hóa.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà chị P trình bày như sau: Chị và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện A, TP . vào ngày 14/11/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống không hợp nhau, anh Đ thường xuyên nghi ngờ chị dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, có nhiều lần xảy ra bao lực gia đình, cuộc sống không có hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân hoàn từ tháng 10/2023 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà anh Đ có quan điểm như sau: Về thời gian, điều kiện, địa điểm kết hôn như chị P trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 10/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị P thường xuyên đi chơi quá đà, bị chồng phát hiện nhưng vẫn không ăn năn, hối lỗi. Trong thời gian đi ở trọ bên ngoài, chị P vẫn tiếp tục chơi bời, trong cuộc sống thường xuyên cãi nhau cũng có nhiều lần xảy ra bạo lực gia đình vì vậy mới dẫn đến sự việc ly hôn này. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Nay chị P làm đơn ly hôn anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị P và anh Đ có 02 con chung là cháu: Lê Hải T - Sinh ngày: 23/10/2013 và Lê Thị Phương H - Sinh ngày: 05/6/2016. Cả chị P va anh Đ đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai cháu và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Nguyện vọng của cháu T và H đều muốn được ở với mẹ.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị P; Xử cho chị P được ly hôn với anh Đ. Về con chung; Giao cả 02 cháu Hải T và Phương H cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ mỗi tháng cấp dưỡng nuôi con cùng chị P 2 triệu đồng/cháu, hai cháu là 04 triệu đồng/ tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2024 cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động. Anh Đ được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét; Về án phí buộc chị P phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Đ phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Quang Đ là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị P và anh Đ đã xay ra mâu thuẫn, hiện tại anh chị đang sống ly thân. Xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy tình trạng hôn nhân của anh chị hiện đã rạn nứt, mỗi người ở một nơi. Quá trình giải quyết vụ án chị P và anh Đ đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của anh chị nên được HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị P và anh Đ có 02 con chung là cháu: Lê Hải T - Sinh ngày: 23/10/2013 và Lê Thị Phương H - Sinh ngày: 05/6/2016. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà chị P và anh Đ đều có nguyện vọng nuôi cả hai con và đề nghị HĐXX không giao cho mỗi người nuôi một cháu vì anh chị không muốn các cháu phải sống xa nhau.

Về phía chị P cung cấp cho Hợp đồng lao động với Công ty T1, với mức thu nhập bình quân 08 triệu/ tháng. Về phía anh Đ trình bày hiện tại anh làm trang trại tại nhà, có mứcthu nhập khoảng 30 triệu/ tháng nhưng anh không cung cấp được tài liệu chứng minh cho lời khai của mình. Tại phiên toà anh cũng khẳng định việc anh lập trang trại chăn nuôi cũng không có báo cáo chính quyền địa phương và cũng không đăng ký quy mô sản xuất kinh doanh.

Về quan điểm của cháu Lê Hải T và Lê Thị Phương H: Cả hai cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ. Bản thân anh Đ và chị P cung thừa nhận nguyện vọng của các cháu tại phiên hoà giải trình bày muốn ở với mẹ cũng như chữ ký, chữ viết trong bản tự khai của các cháu là đúng.

Xét nguyện vọng của các đương sự cũng như của các cháu, HĐXX thấy cả chị P và anh Đ đều có nguyện vọng nuôi con đây là nguyện vọng chính đáng của anh chị. Tuy nhiên xem xét điều kiện thực tế chứng minh về công việc và thu nhập hàng tháng cũng như xem xét đến nguyện vọng của các cháu và bản thân anh chị cũng đề nghị khi giao con thì giao cả hai cháu cho một người được trực tiếp nuôi dưỡng, anh chị không muốn các cháu phải sống xa nhau vì vậy HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cả hai cháu cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng các cháu là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên toà anh Đ cấp dưỡng cho mỗi cháu là 02 triệu đồng/ tháng. Chị P cũng đồng ý vì vậy HĐXX xét thấy đây là ý chí tự nguyện của anh Đ nên chấp nhận. Về thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2024 cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động.

Về quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung: Anh Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp anh Đ lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị P thì chị P được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đ.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc chị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và anh Đ nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56, khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm b khoan 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị P.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị P được ly hôn với anh Lê Quang Đ.
  2. Về con chung:
    • Chị P và anh Đ có 02 con chung là cháu: Lê Hải T - Sinh ngày: 23/10/2013 và Lê Thị Phương H - Sinh ngày: 05/6/2016. Nay ly hôn giao cả 02 cháu Hải T và Phương H cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng.
    • Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 02 triệu đồng/ tháng. Hai cháu là 04 triệu đồng/ tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2024 cho đến khi các cháu trưởng thành và có khả năng lao động.
    • Về quyền đi lại, thăm nom con chung: Anh Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp anh Đ lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị P thì chị P được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đ.
  3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
  4. Về án phí:
    • Buộc chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007129, ngày 08 tháng 04 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị P đã thi hành xong phần án phí. Anh Đ phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
  5. Về quyền kháng cáo:
    • Án xử công khai sơ thẩm có mặt các đương sự. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.
    • “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND xã Lê Thiện, huyện An Dương, TP. Hải Phòng.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Pxác định cuộc sống vợ chồng của chị và anh Đại xảy ra nhiều mâu thuẫn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger