TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 21 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Hân Em.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng và bà Lê Thị Thường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh P, sinh ngày 29/6/1998. Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; anh, chị, em có 05 người, bị cáo là người thứ năm; bị cáo chưa có vợ con. Ngày 15/02/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 01/02/2020 chấp hành xong. Tiền sự: không. Tiền án: ngày 26/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 28/4/2023, chấp hành xong bản án. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2023 cho đến nay (có mặt).
Bị hại: ông Văn Công Đ, sinh năm 1961. Nơi cư trú: khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: ông Nguyễn Thiện P1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 07/11/2023, tại khu vực khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang, Nguyễn Minh P trèo qua tường rào nhà ông Văn Công Đ, đột nhập vào phòng ngủ, lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của ông Đ để trên ghế gỗ bỏ vào túi quần. P tiếp tục đi lên lầu mở cửa thông hành, trèo sang mái nhà người dân xung quanh thoát ra ngoài, đem điện thoại vừa trộm được cất giấu trong hộc đựng đồng hồ nước trước cửa nhà ông Nguyễn Thiện P1, cách nhà ông Đ khoảng 150m. Đến ngày 08/11/2023, biết hành vi lấy trộm điện thoại đã bị C an ninh nhà ông Đ ghi lại nên P đến Công an thị trấn N đầu thú và chỉ nơi cất giấu vật chứng để lực lượng Công an thu giữ.
Tang vật thu giữ gồm có: điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng cùng sim điện thoại số 0787.970.xxx. Ngày 17/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho ông Văn C1 Đùng điện thoại và sim điện thoại đã thu giữ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐGTS, ngày 16/11/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, trị giá 5.600.000 đồng; 01 sim điện thoại số 0787.970.xxx trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá là 5.700.000 đồng.
Kết luận giám định số 92/KL-KTHS, ngày 15/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Trích xuất 13 (mười ba) ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo.
Theo Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 08/11/2023 của Công an thị trấn N, huyện T, xác định: Nguyễn Minh P dương tính với M.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSTS-HS ngày 17/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Minh P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Bị hại ông Văn Công Đ và người làm chứng ông Nguyễn Thiện P1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (từ bút lục 109 -115).
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P mức án từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: do bị hại Văn Công Đùng đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị hại ông Văn Công Đ và người làm chứng ông Nguyễn Thiện P1 vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ; các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 07/11/2023, tại khu vực khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Minh P đã thực hiện hành vi trèo qua tường rào vào nhà ông Văn Công Đ lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max và 01 sim điện thoại số 0787.970.xxx của ông Đ, có tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 5.700.000 đồng. Đến ngày 08/11/2023, biết hành vi lấy trộm điện thoại đã bị C an ninh nhà ông Đ ghi lại nên P đến Công an thị trấn N đầu thú và chỉ nơi cất giấu vật chứng để lực lượng Công an thu giữ.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Minh P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy và đã bị kết án về tội cố ý gây thương tích, phải chấp hành hình phạt tù. Lẽ ra, khi chấp hành xong hình phạt bị cáo phải nhận thức được lỗi lầm, thấy được sự răn đe, trừng trị của pháp luật, từ đó lao động làm ăn chân chính nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; điều đó cho thấy bị cáo rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương.
- Về tình tiết tăng nặng: ngày 26/5/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 28/4/2023, chấp hành xong về địa phương; ngày 07/11/2023 phạm tội trong vụ án này. Do bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội cố ý. Đây là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp nên có nhận thức pháp luật hạn chế, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy, hiện tại trên địa bàn huyện T tội phạm trộm cắp tài sản có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: sau khi vụ án xảy ra, bị hại Văn Công Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về vật chứng: không có.
[8] Về các vấn đề khác: bị cáo Nguyễn Minh P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh P 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08 tháng 11 năm 2023).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Minh P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hân Em |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh P phạm tội Trộm cắp tài sản
