|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
|
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày 01 - 12 - 2025
V/v “Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc Nga
- Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Quỳnh Anh – Thư ký, Toà án nhân dân Khu vực 1 - Ninh Bình.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Đức Hiền.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 176/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2025 về “Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh ngày 09/10/1991
- Bị đơn: Anh Lê Mạnh H1, sinh 04/01/1988
Căn cước công dân: [...]; Cấp ngày 25/3/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: Thôn Q, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cước công dân: [...]; Cấp ngày 05/4/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ: Số nhà I, đường T, phố P, phường H, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 đều có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Vũ Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Mạnh H1 tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn vào ngày 11/7/2017 tại UBND phường N (nay là UBND phường H, tỉnh Ninh Bình). Quá trình chung sống, chị và anh H1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, đánh nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2020 mâu thuẫn căng thẳng, C và anh H1 sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Tháng 7/2025, chị nộp đơn xin ly hôn, sau khi Toà án thụ lý vụ án, để có thêm thời gian vợ chồng xem xét về quan hệ tình cảm, chị đã rút đơn khởi kiện. Nhưng đến nay anh H1 vẫn không có biện pháp gì hàn gắn tình cảm, không quan tâm gì đến chị. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vì vậy chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh Lê Mạnh H1.
- Về con chung: Chị và anh H1 có 02 con chung là cháu Lê Thanh H2 và cháu Lê Thanh T cùng sinh ngày 15/5/2018. Hiện chị không có công việc ổn định, đang ở cùng mẹ đẻ tại Thanh Hoá, phụ giúp mẹ chị làm ruộng. Hai con đều đang ở cùng anh H1 tại Ninh Bình. Do chị không có điều kiện để trực tiếp nuôi con nên chị nhất trí giao cả hai cháu cho anh H1 nuôi.
- Về cấp dưỡng tiền cho con: Chị và anh H1 tự thoả thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại đơn, bị đơn anh Lê Mạnh H1 trình bày: Anh và chị Vũ Thị P được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 11/7/2017 tại Ủy ban nhân dân phường N. Năm 2020 hai vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng sống ly thân, chị H chuyển đi nơi khác sinh sống. Nay chị H xin ly hôn anh đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị H có hai con chung là cháu Lê Thanh H2 và cháu Lê Thanh T cùng sinh ngày 15/5/2018, các cháu đang ở với anh từ khi anh chị sống ly thân. Khi ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi hai cháu.
- Về cấp dưỡng tiền cho con: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và công nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Biên bản ghi ý kiến hai cháu Lê Thanh H2 và cháu Lê Thanh T đều có nguyện vọng được ở cùng anh H1.
Chị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đồng thời tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt; Anh H1 đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị H và anh H1 đều vắng mặt có lý do. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp cho các đương sự.
Tại biên bản xác minh, tổ trưởng tổ dân phố P cung cấp: Chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 kết hôn sinh sống tại phố cùng gia đình bố mẹ đẻ anh H1 từ năm 2017. Theo phản ánh của anh H1 vợ chồng anh chị mâu thuẫn, đến năm 2020 thì mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng anh chị có hai con chung, hiện đang do anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H1 làm nghề cơ khí, có thu nhập ổn định, chị H làm gì, ở đâu phố không có thông tin. Đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Ninh Bình tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng người tham gia tố tụng, xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định của pháp luật. Tiến hành việc thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ theo đúng trình tự phiên tòa Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).
Thẩm phán đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 208, 209, 210, 211 BLTTDS.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56; 57; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, Điều 35; khoản 1 điều 39; Điều 147, điều 228 BLTTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, đề nghị HĐXX xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Lê Mạnh H1.
- Về con chung: Giao cho anh Lê Mạnh H1 được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Thanh H2 và cháu Lê Thanh T1 (cùng sinh ngày 15/5/2018) đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng, được trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001439 ngày 09/10/2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện của chị Vũ Thị H, HĐXX xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Chị H khởi kiện đối với bị đơn là anh Lê Mạnh H1 có địa chỉ tại phường H, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Ninh Bình.
- Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị H, anh Lê Mạnh H1 là nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường phường N (nay là UBND phường H, tỉnh Ninh Bình) ngày 11 tháng 7 năm 2017. Hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị H và anh H1 đều khẳng định sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, anh chị đã sống ly thân từ năm 2020, mỗi người ở một nơi, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, hôn nhân của chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H là phù hợp với khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 có 02 con chung là cháu Lê Thanh H2 và cháu Lê Thanh T cùng sinh ngày 15/5/2018. Hiện nay các cháu đang ở với anh H1. Anh H1 có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu, Chị H cũng đồng ý giao hai cháu cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng các cháu, các cháu đều có nguyện vọng được ở với anh H1. Xét thấy, từ khi ly thân, chị H sinh sống ở nơi khác, anh H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục, các cháu đến nay anh H1 vẫn đảm bảo việc sinh hoạt, chăm sóc tốt cho cháu. Do đó, để đảm bảo tốt về mọi mặt cho các cháu, cần giao hai cháu cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng tiền cho con: Chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 không đề nghị Toà án giải quyết. HĐXX không xem xét.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Vũ Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H về việc “Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với anh Lê Mạnh H1.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1.
- Về con chung: Giao cho anh Lê Mạnh H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Lê Thanh H2, sinh ngày 15/5/2018 và cháu Lê Thanh T, sinh ngày 15/5/2018 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Vũ Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền trên được trừ vào số tiền chị H đã nộp tạm ứng án phí tại Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 1 - Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001439 ngày 09/10/2025.
Chị Vũ Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này. Khi cần các bên có thể thay đổi việc nuôi con chung.
Về cấp dưỡng tiền cho con: Chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 không đề nghị Toà án giải quyết.
Án xử công khai sơ thẩm chị Vũ Thị H và anh Lê Mạnh H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Tuyết |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH về ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Thị H xin ly hôn anh Lê Mạnh H1
