|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày: 26 - 11 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Viết Chiến
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thế Hải và bà Nguyễn Thị Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn N, sinh năm 1997, tại phường H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn A (nay là K, phường H) tỉnh Nghệ An; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và con bà Lê Thị S (đã chết), bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh kể từ ngày 01/10/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Anh Lê Thạc N1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn A (nay là TDP A, phường H), tỉnh Nghệ An (đã chết)
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Trần Thị T1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn A (nay là TDP12, phường H), tỉnh Nghệ An. Là vợ của bị hại. Vắng mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng:
- + Chị Lê Thị O, sinh năm 1977; Nơi cư trú: TDP B, phường N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
- + Anh Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1963; Nơi cư trú: TDP P, phường N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 12/06/2022, Lê Thạc N1, sinh năm 1992, trú tại thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An (nay là TDP A, phường H) tỉnh Nghệ An, cùng với Trần Văn N ở cùng thôn và một số người bạn của N1 ngồi uống bia tại nhà N1, sau đó cả nhóm đi hát karaoke và uống bia tiếp. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, mặc dù biết N1 đã uống bia nhưng N vẫn giao xe mô tô BKS 37L2 – 386.54 của N cho N1 điều khiển chở N đi sang địa bàn thị xã N, tỉnh Thanh Hóa chơi. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 13/6/2022, N1 chở N đi theo đường ven biển đi về nhà khi đến địa phận thôn H, xã H, thị xã N (nay là tổ dân phố H, phường N) tỉnh Thanh Hóa, đây là đoạn đường rải thảm nhựa bằng phẳng, chiều rộng mặt đường 11m, có vạch kẻ đường cho phương tiện tham gia giao thông theo hai chiều riêng biệt. Lúc này do trời tối, bản thân N1 đã sử sụng bia, N1 đã không làm chủ được tay lái để bị ngã xe mô tô nằm nghiêng kéo trượt rê trên mặt đường, lao ra bãi đất trống tiếp ráp với bờ tường khu vực nhà máy N2 phía bên phải theo hướng đi, khiến cả người và xe ngã văng trên nền đất, N1 chết tại chỗ, còn N bị thương phải đi điều trị tại bệnh viện, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
Tại bản Kết luận giám định số 2229/KL - KTHS ngày 23/6/2022, của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của anh Lê Thạc N1 do “Vỡ hộp sọ, dập não, thoát não”
Tại bản Kết luận giám định số 2399/KL - KTHS ngày 11/7/2022, của Phòng K Công an tỉnh T, khám nghiệm đối với phương tiện liên quan trong vụ tai nạn kết luận:
- Dấu vết cà trượt tại mặt lăn, má trái lốp trước cạnh vành tương ứng hàng chữ “FRONT” mặt trước bên trái đầu xe, tay côn, tay nắm bên trái mặt trước dưới giá để chân bên trái, ốp nhựa bên trái thân xe, mặt trên ngoài bên trái tay nâng, mặt sau biển số xe mô tô BKS 37L2 – 386.54 phù hợp do va chạm mặt đường tại khu vực hiện trường tạo nên.
- Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 37L2 – 386.54 với người hay phương tiện khác.
- Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe mô tô BKS 37L2 – 386.54tại thời điểm va chạm.
- Không đủ cơ sở xác định vị trí của nạn nhân Lê Thạc N1 và Trần Văn N tại hiện trướngau khi xảy ra tai nạn. Không đủ cơ sở để xác định nận nhân Lê Thạc N1 hay Trần Văn N là người điều khiển xe mô tô BKS 37L2 – 386.54.
Tại bản kết luận giám định số HP165/2022/TTPY, ngày 01/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T giám định nồng độ cồn trong máu của Lê Thạc N1 kết luận:
- “Không có Methamol"
- “Có cồn Etahnol, nồng độ 65,2 mg/100ml máu.
Tại bản kết luận giám định số HP166/2022/TTPY, ngày 01/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tìm chất ma tuý trong máu của Lê Thạc N1 kết luận: “Mẫu máu của Lê Thạc N1 gửi giám định pháp y về hoá pháp không phát hiện thấy các chất ma tuý, chất kích thích khác kể trên”
Tại bản kết luận giám định số HP155/2022/TTPY, ngày 01/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T giám định nồng độ cồn trong máu của Trần Văn N kết luận: “Mẫu máu của Trần Văn N gửi giám định pháp y về hoá pháp không phát hiện nồng độ cồn E, Methanol”
Tại bản kết luận giám định số HP156/2022/TTPY, ngày 01/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T giám định tìm chất ma tuý trong máu của Trần Văn N kết luận: “Mẫu máu của Trần Văn N gửi giám định pháp y về hoá pháp không phát hiện thấy các chất ma tuý, chất kích thích khác kể trên”
- Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, thông qua khám nghiệm hiện trường và N tự nguyện giao nộp, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô BKS 37 L2 – 386.54 kèm theo giấy tờ xe và giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Thạc N1. Sau khi phục vụ công tác giám định, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại phương tiện kèm theo giấy tờ xe cho chủ sở hữu là bị cáo Trần Văn N. Đối với giấy phép lái xe hạng A1 được trả lại cho đại diện hợp pháp của anh N1 là chị Trần Thị T1 theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSKV9, ngày 06/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hoá đã truy tố Trần Văn N về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 264 BLHS.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng: Điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm a, khoản 1 Điều 264 và Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn N. Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
- Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về bồi thường thiệt hại: Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo N bồi thường nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại phương tiện kèm theo giấy tờ xe cho chủ sở hữu là bị cáo Trần Văn N. Đối với giấy phép lái xe hạng A1 được trả lại cho đại diện hợp pháp của anh N1 là chị Trần Thị T1 theo đúng quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Trần Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối với việc vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng tại phiên toà tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N khai nhận: Mặc dù biết rõ anh N1 có sử dụng bia, trong người có nồng độ cồn không được phép điều khiển xe mô tô nhưng N vẫn giao xe mô tô của mình cho anh N1 điều khiển dẫn đến tại nạn giao thông làm anh N1 chết, N bị thương và xe mô tô của N bị hư hỏng.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người làm chứng, phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Hành vi của Trần Văn N vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 là nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo N đủ các yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 264 BLHS.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng:
Hiện nay tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại về sức khoẻ và tính mạng người khác, làm cho nhân dân trên địa bàn hoang mang, lo sợ. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt tương xứng theo quy định mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ. Khi lượng hình cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nên cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự, cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Xét về phần hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập:
Bản thân bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, bố mẹ đã chết, bị cáo đang sống một mình có xác nhận của chính quyền địa phương, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
[6] Xét về bồi thường dân sự:
Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX miễn xét.
[7] Xét về phần vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại phương tiện kèm theo giấy tờ xe cho chủ sở hữu là bị cáo Trần Văn N. Đối với giấy phép lái xe hạng A1 được trả lại cho đại diện hợp pháp của anh N1 là chị Trần Thị T1 theo đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[8] Xét về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
- 2. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 264, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- 3. Xử phạt: Trần Văn N 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh N nhận được Quyết định Thi hành án.
Giao bị cáo Trần Văn N cho UBND phường H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tại không giam giữ tại địa phương.
Trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 của Luật thị hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Do bị cáo không có việc làm ổn định, cha mẹ đã chết đang sống một mình, có điều kiện kinh tế khó khăn được địa phương xác nhận nên miễn hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- 3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ – UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, vắng mặt người đại diện hợp pháp bị hại, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Viết Chiến |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THANH HOÁ về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mặc dù biết rõ anh Ngọc có sử dụng bia, trong người có nồng độ cồn không được phép điều khiển xe mô tô nhưng Nam vẫn giao xe mô tô của mình cho anh Ngọc điều khiển dẫn đến tại nạn giao thông làm anh Ngọc chết, Nam bị thương và xe mô tô của Nam bị hư hỏng. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người làm chứng, phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Hành vi của Trần Văn Nam vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 là nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nam đủ các yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 264 BLHS.
