TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU TỈNH CÀ MAU Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 9 năm 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út
Bà Khưu Liên Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị H, sinh ngày 01/01/1992.
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp C, xã H, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
Bị đơn: Ông Lâm Văn T, sinh ngày 24/11/1984
Nơi đăng ký thường trú: Số A, Khóm D, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số A, Khóm D, phường V, tỉnh Cà Mau);
Nơi ở: Số S, Khóm D, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số S, Khóm G, phường B, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Bà H và ông Lâm Văn T tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2011 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ngày 03/6/2011. Trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung; Ông T không lo lăm ăn, dù đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi; Cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống có có hai con chung tên Lâm Như N, sinh ngày 18/4/2016 và Lâm Hiếu T1, sinh ngày 26/10/2011. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lâm Văn T vắng mặt, nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
Về thủ tục tố tụng:
Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, không thuộc trường hợp phải thay đổi ai. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị.
Về nội dung vụ án:
Có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trương Thị H đối với ông Lâm Văn T.
Về con chung:
Giao con chung là Lâm Như N, sinh ngày 18/4/2016 và Lâm Hiếu T1, sinh ngày 26/10/2011 cho bà H trực tiếp nuôi, hiện con chung đang sống cùng bà H, cho nên bà H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
Ông Lâm Văn T được quyền thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
Ông Lâm Văn T không cấp dưỡng nuôi con do bà Trương Thị H không yêu cầu.
Về tài sản chung; Nợ chung:
Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Án phí: Nguyên đơn phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của đương sự; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Trương Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lâm Văn T, nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông T có nơi cư trú tại phường B, tỉnh Cà Mau, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6- Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
[2] Xét thấy bà Trương Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lâm Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà H, ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Bà Trương Thị H và ông Lâm Văn T tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2011 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ngày 03/6/2011. Nên hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Bà H xác định trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung; Ông T không lo lăm ăn, dù đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi; Cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông T trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến. Mặt khác, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng ông T đều vắng mặt. Qua đó cho thấy bà H và ông T không có khả năng hàn gắn tình cảm. Xét thấy mục đích của hôn nhân giữa bà H và ông T không đạt được.
Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H, cho bà H được ly hôn với ông T.
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống có hai con chung tên Lâm Như N, sinh ngày 18/4/2016 và Lâm Hiếu T1, sinh ngày 26/10/2011. Hiện nay con chung đang sống cùng bà H. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, ông T không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, cho nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, ông T không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Bà Trương Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[7] Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 228; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
Về hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trương Thị H đối với ông Lâm Văn T. Bà Trương Thị H được ly hôn với ông Lâm Văn T.
Về con chung:
Giao con chung là Lâm Như N, sinh ngày 18/4/2016 và Lâm Hiếu T1, sinh ngày 26/10/2011 cho bà Trương Thị H trực tiếp nuôi, hiện con chung đang sống cùng bà H, cho nên bà H được tiếp tục nuôi con chung.
Ông Lâm Văn T được quyền thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
Ông Lâm Văn T không cấp dưỡng nuôi con do bà Trương Thị H không yêu cầu.
Về tài sản chung; Nợ chung:
Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí:
Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Trương Thị H phải chịu 300.000 đồng. Bà H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0011163 ngày 22/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí 300.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Hồng Lam |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị H - Lâm Văn T tranh chấp ly hôn, nuôi con
