Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số:10/2024/HNGĐ - STNgày: 28/2/2025

V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Hợp
  • 2. Bà Nguyễn Thị Xuyến

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Thành Công - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 2 năm 2025 tại hội trường, Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 371/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QÐSTHNGĐ, ngày 13 tháng 2 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Đức D, sinh năm 1974 (Có mặt)
Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Chị Dương Thị L, sinh năm 1978 (Có mặt )
Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày như sau:

Nguyên đơn anh Trần Đức D trình bày: Anh và chị Dương Thị L cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình đồng ý, tổ chức hôn lễ theo phong tục địa phương vào năm 1996. Tuy nhiên do nhận thức pháp luật và hoàn cảnh gia đình nên anh chị không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Sau khi tổ chức lễ cưới hai vợ chồng sống ở xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến nay. Quá trình sinh sống vợ chồng thì hoà thuận nhưng đến năm 2020 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, từ đó vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm yêu thương nhau, anh xác định cuộc sống hôn nhân vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết không công nhận anh và chị Dương Thị L là vợ chồng.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Trần Dức H, sinh ngày 14/7/1996 và cháu Trần Đức H1, sinh ngày 9/5/2002, các con đều trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn chị Dương Thị L trình bày: Chị và anh Trần Đức D cưới nhau năm 1996 theo phong tụ địa phương nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Sau khi cưới, sống cùng nhau hoà thuận đến 2020 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm yêu thương nhau. Đề nghị Toà án giải quyết không công nhận chị và anh Trần Đức D là vợ chồng; Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Trần Dức H, sinh ngày 14/7/1996 và cháu Trần Đức H1, sinh ngày 9/5/2002, các con đều trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh Trần Đức D và chị Dương Thị L xác định anh chị cưới nhau năm 1996 do không hiểu pháp luật nên không đăng ký kết hôn tại UBND xã có thẩm quyền, nay anh chị xác định không còn tình cảm với nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận anh Trần Đức D và chị Dương Thị L là vợ chồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 BLTTDS năm 2015; Điều 14 và 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Đức D và chị Dương Thị L;
  2. Về con chung: Con chung đã trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không giải quyết do không yêu cầu.
  4. Về án phí: anh Trần Đức D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện của anh Trần Đức D đề nghị không công nhận vợ chồng với chị Dương Thị L, sinh năm 1978, cư trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đây là vụ án về tranh chấp “Không công nhận quan hệ vợ chồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Anh Trần Đức D và chị Dương Thị L chung sống với nhau từ năm 1996, hôn lễ được tổ chức theo nghi lễ phong tục tập quán địa phương, anh D chị L thừa nhận vợ chồng không đăng ký kết hôn tại UBND xã có thẩm quyền. Sau khi cưới sống với nhau hạnh phúc hòa thuận có hai con chung nhưng từ năm 2020 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm yêu thương nhau. Do dó, đề nghị HĐXX không công nhận anh Trần Đức D và chị Dương Thị L là vợ chồng.

Theo đơn đề nghị của chị L tại UBND xã P (nơi chị L thường trú năm 1996) xác nhận chị Dương Thị L và anh Trần Đức D không đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Tại biên bản làm việc với UBND xã T, huyện Đ xác nhận sổ đăng ký kết hôn thời kỳ năm 1993 đến năm 1998 không còn lưu trữ, chỉ còn sổ đăng ký kết hôn từ năm 1999 trở lại đây, qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn còn lưu trữ cho đến nay không có tên anh Trần Đức D và chị Dương Thị L. Do đó, không có căn cứ để chứng minh việc kết hôn giữa Trần Đức D và chị Dương Thị L được đăng ký và do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định pháp luật, như vậy: anh Trần Đức D và chị Dương Thị L chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1996, từ đó cho đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định nên đã vi phạm Luật hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa anh Trần Đức D và chị Dương Thị L không được pháp luật thừa nhận. Hội đồng xét xử xét thấy thực tế về quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị V từ khi chung sống cùng nhau sống hạnh phúc nhưng từ năm 2020 hai vợ chồng có mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, ly thân từ năm 2020 đến nay, anh D và chị L đều xác định không còn tình cảm vợ chồng và đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng. Căn cứ vào khoản 1 điều 14, khoản 2 điều 53 Luật hôn nhân và gia đình cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Đức D và chị Dương Thị L.

[3]. Về con chung: Anh Trần Đức D và chị Dương Thị L xác định con chung đã trưởng thành, không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung: Anh Dũng chị L yêu cầu được tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung trong vụ án này. Khi các đương sự có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung thì khởi kiện bằng vụ án khác.

Về nợ chung: anh D chị L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Anh Trần Đức D phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Đức D

  1. Về Quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Đức D và chị Dương Thị L.
  2. Về con chung: Đã trưởng thành nên không giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Trần Đức D phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án Hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước, được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005777 ngày 30/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnhTN;
  • - VKSND H. Đại Từ;
  • - Chi cục THADS TP;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Tiên Hội;
  • - Lưu HS, BP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2024/HNGĐ - ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 10/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận KK
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger