Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST

Ngày: 26/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA-TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Thanh Miện – Giáo viên nghỉ hưu.
  2. Ông Bùi Thế Hanh – Cán bộ hưu.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Ước - Kiểm sát viên.

Ngày 26/5/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 05/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS, ngày 15/5/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hồng Q; Sinh ngày 16/3/2008;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;

Họ và tên cha: Phạm Văn T, sinh năm 1985;

Họ và tên mẹ: Triệu Thị T1, sinh năm 1987;

Vợ, con: Chưa có;

Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 2.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáokhông bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện theo pháp luật và người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị X, sinh năm 1966. (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn P - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

Địa chỉ trụ sở chính: số F, đường L, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

* Bị hại: Bà Ma Thị H, sinh năm 1953 (đã chết).

* Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

  1. Chị Ma Lê N, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

  1. Anh Ma Văn B, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Ủy quyền cho chị Ma Lê N, sinh năm 1983. (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Tiến D, sinh ngày 27/02/2008. (Xin vắng mặt)

Do ông Nguyễn Đức T2, sinh năm 1972 đại diện theo pháp luật. (Xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

  1. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1985. (Có mặt)
  2. Chị Triệu Thị T1, sinh năm 1987. (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

  1. Anh Ngô Chí H1, sinh 1983. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

*Người tham gia tố tụng khác:

Đại diện Đoàn thanh niên xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang;

(Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 24/01/2025, Phạm Hồng Q, sinh ngày 16/3/2008 ở thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang (Q chưa có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô BKS 98H1- 232.03 của mình chở Nguyễn Tiến D, sinh ngày 27/02/2008 ở cùng thôn đi trên đường liên xã X- M hướng xã X đi dốc Bách Nhẫn. Khi đi đến gần cổng trường tiểu học xã M thuộc thôn M, xã M, huyện H (khu vực có biển cảnh báo nguy hiểm trẻ em qua đường), Q điều khiển xe mô tô chở D đi bên phải đường theo hướng đi của mình thì phát hiện thấy phía trước có bà Ma Thị H, sinh năm 1953 ở thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn đang đi bộ phía trước từ bên phải sang bên trái đường theo hướng đi của Q. Do khoảng cách giữa xe mô tô Q điều khiển và bà H quá gần (khoảng 03m) nên Q chỉ kịp đạp phanh chân nhưng phần đầu xe mô tô do Q điều khiển đã va vào người bà H làm bà H ngã ra đường và bất tỉnh; Q và D ngã ra đường, xe mô tô đổ rê trượt về phía trước. Sau khi xảy ra tai nạn, Q và D đã gọi người dân xung quanh đến đưa bà H đi cấp cứu tuy nhiên do thương tích nặng nên bà H đã chết trên đường đi cấp cứu, Q bị xây sát thương tích nhẹ, anh D không bị thương tích gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thành lập đoàn tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và thu giữ: 01 xe mô tô BKS 98H1- 232.03. Kết quả đo nồng độ cồn và kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Phạm Hồng Q là 0.000/mg/L, âm tính với chất ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát 34C-003.34, 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 184.37; chất dịch màu nâu đỏ được niêm phong trong phong bì có ký hiệu là M1, 01 lồng chim bị bẹp, méo. Khám nghiệm tử thi thu giữ mẫu máu và quần áo của chị H2.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

- Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đường liên thôn thuộc địa phận thôn M, xã M, huyện H là đoạn đường được trải nhựa phẳng không bị tre khuất tầm nhìn, lòng đường rộng 7m, hai bên lề đường là nắp cống rộng 0,7m tiếp giáp với nắp cống là khu vực nhà dân, lấy hướng dốc Bách Nhẫn đi X làm hướng khám nghiệm để xác định bên phải, bên trái, lấy cột đèn chiếu sáng 17/4/TBAUBND làm mốc định vị ký hiệu M.

- 01 xe mô tô BKS 98H1-232.03 trong tư thế dựng chân chống phụ trên lòng đường bên phải, đầu hướng đi dốc Bách Nhẫn đuôi hướng xã X, tâm trục bánh sau cách phải là 0,9m, tâm trục bánh trước cách phải và điểm mốc lần lượt là 0,85m và 4,4m;

- Hệ thống vết cày xước trên mặt đường có kích thước (18,2 x 0,9)m, rộng đơn 01cm có chiều hướng Xuân C đi đốc Bách Nhẫn đầu cách phải là 2,85m, điểm kết thúc cách phải và mốc lần lượt là 1,8m và 3,9m;

- Dấu vết mảnh nhựa vỡ tại lòng đường bên trái cách phải là 6,55m, cách đầu hệ thống vết cày xước về hướng X là 6,80m;

Mở rộng hiện trường: Tại mép đường bên trái hướng đi X có 01 biển cảnh báo “Nguy hiểm trẻ em qua đường” cách đầu hệ thống vết cày xước mặt đường là 19m, lòng đường có vạch sơn màu vàng giảm tốc độ, điểm gần nhất cách đầu hệ thống vết cày xước mặt đường là 21,40m về hướng đi xã X; Tại mép đường bên phải hướng đi đốc Bách Nhẫn có 01 biển cảnh báo “Nguy hiểm trẻ em qua đường” cách điểm kết thúc hệ thống vết cày xước mặt đường là 20m.

* Kết quả khám nghiệm tử thi bà Ma Thị H:

Chiều dài tử thi 1,52m, thể trạng phát triển bình thường, tử thi đang trong gia đoạn mềm lạnh; Vùng đầu tóc để dài có điểm bạc, hai lỗ tai khô, hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn, vùng trán phải có diện sây sát da kích thước (2 x 1,5)cm, vùng trán, cùng mày trái có diện sây sát da kích thước (7 x 3,5)cm. Sờ nắn thấy gẫy phức tạp xương ức, xương sườn hai bên; mu bàn tay phải có diện sây sát rách da kích thước (9 x 2)cm; cổ tay, mu bàn tay trái có diện bầm tím da kích thước (10 x 5)cm; cảng chân phải và gối phải có diện sây sát, bầm tím da kích thước (28 x 11)cm; 1/3 dưới đùi trái, gối trái và 1/3 trên cảnh chân trái có diện bầm tím, rách da kích thước (27,5 x 7)cm; Sờ nắn thấy gẫy đột sống cổ C5; Chọc hút bằng bơm kim tiêm trên khoang nồng ngực phải thấy nhiều máu không đông lẫn dịch bọt.

* Kết quả khám phương tiện xe mô tô BKS 98H1- 232.03

- Mặt ngoài ốp nhựa trước bên phải đèn xi nhan phải có vết vỡ nhựa, trà sát trên diện (9 x 6)cm bám dích chất màu trắng theo hướng từ trước ra sau; Mặt ngoài đầu tay nắm bên phải có vế trà sát, rách vỏ cao su trên diện (3,5 x 2)cm theo hướng từ trước về sau;

- Đầu cánh yếm bên phải bạt khỏi khớp cố định, phần tiếp giám đầu cánh yếm và cổ xe có vết nứt vỡ trên diện (13 x 9)cm; Mặt ngoài phía dưới cánh yếm bên phải có vết trà sát nhựa trên diện (34 x 11)cm bám dích chất màu vàng; Chắn bùn phía trước phần nối với cổ xe có vết trà sát, nứt trên diện (15 x 0,1)cm;

- Mặt ngoài phía trước ốc nối càng xe và trục bánh xe có vết trà sát kim loại bám dích chất màu trắng trên diện (1 x 0,5)cm theo hướng từ trước về sau; Mặt ngoài cần để chân chính bên phải có vết trà sát kim loại, cao su trên diện (2 x 1)cm, bám dính chất màu trắng theo hướng từ trước về sau; Mặt ngoài để chân phụ bên phải có vết trà sát kim loại bám dích chất màu trắng trên diện (0,5 x 0,3)cm;

- Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả có vết trà sát kim loại trên diện (30x05)cm theo hướng từ trước về sau; Mặt ngoài ốp nhựa phía trên đèn xi nhan trái phía trước có vết trà sát bám dích chất màu vàng trên diện (6 x 0,3)cm; Ốp nhựa phía trước cổ xe (mặt nạ) bật khớp định vị; Mặt trên đầu chán bún bánh trước có vết trà sát nhựa bám dích chất màu hồng trên diện (1,5 x 2)cm;

- Mặt ngoài phía dưới cần để chân chính bên trái có vết trà sát kim loại, rách cao su trên diện (2x1,5)cm, bị đẩy cong theo hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên; Mặt ngoài phía dưới cần để chân phụ bên trái có vết trà sát bám dính chất màu trắng trên diện (3x0,5)cm; Hệ thống phanh còn hoạt động.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 261/KLGĐTT-KTHS ngày 10/02/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:

Trên cơ thể Ma Thị H có các tổn thương bầm tím, sây sát, rách da tại vùng: Đầu, mặt, và tứ chi. Sờ nắn thấy gãy đốt sống cổ C5, gãy phức tạp xương ức, xương sườn hai bên. Chọc hút bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực phải thấy có nhiều máu không đông lẫn dịch bọt.

Cơ chế hình thành dấu vết, thương tích: Các tổn thương bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau tạo nên. Trong đó, tổn thương gãy đốt sống cổ, gãy xương lồng ngực do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.

Kết luận nguyên nhân chết của Ma Thị H do đa chấn thương: Chấn thương ngực kín, gãy đốt sống cổ C5.

Tại Bản kết luận giám định số 372/KLGĐTT-KTHS ngày 25/02/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:

1. Dấu vết mài trượt sơn, nhựa, cao su, sạch bụi đất, tạo thành các đường song song tại bên phải má lốp bánh trước, bảo vệ giảm xóc trước bên phải, phía trước cánh yếm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 232.03, có hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào tâm bánh (từ ảnh số 19 đến 21 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày, có bề mặt vải sợi (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên. Vị trí va chạm trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2, không xác định được thuộc chiều chuyển động bên phải hay bên trái theo hướng dốc Bách Nhẫn đi X qua dấu vệt cơ học.

2. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 232.03 với phươg tiện khác.

3. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 98H1 232.03 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định số 267/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “628966485026.mp4", dung lượng: 44,1MB, thời lượng: 07 phút 56 giây được lưu trong đĩa DVD-R gửi giám định. Trích xuất được 08 (tám) hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc trong file video gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 824/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của V Bộ C1 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phản chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Ma Thị H gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 827/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của V Bộ C1 kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Ma Thị H, sinh năm 1953 ở thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn).

Ngày 25/01/2025, Cơ quan điều tra thu giữ 01 file video chứa nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 24/01/2025, thời lượng: từ 21 giờ 01 phút 8 giây ngày 24/01/2025 đến 21 giờ 09 phút 25 giây ngày 24/01/2025 được lưu trữ trong đĩa DVD của gia đình chị Ngô Thu H3, sinh năm 1992 ở thôn M, xã M, huyện H. Cơ quan điều tra tiến hành cho Phạm Hồng Q xem lại đoạn video đã thu giữ kết quả: Quân xác định đoạn video mà Cơ quan điều tra đã thu giữ là nội dung vụ tai nạn giao thông do Q điều khiển xe mô tô gây tai nạn với bà H đang đi bộ sang đường.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn T là bố đẻ của Phạm Hồng Q đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Ma Thị H số tiền 120.000.000 đồng. Phạm Văn T không yêu cầu Q phải trả cho anh số tiền đã bồi thường cho gia đình bà H. Đến nay, chị Ma Lê N (con đẻ bà H) là đại diện hợp pháp của bà H không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q.

Tại Cơ quan điều tra Phạm Hồng Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 37/CT-VKS-YT ngày 02/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Phạm Hồng Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 Bộ luật hình sự; Điều 119; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 01(một) năm 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Hình phạt bổ sung: Lỗi của bị cáo là vô ý, khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo Q: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98H1- 232.03, nhãn hiệu Hoda Wave Alpha, màu sơn xanh nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo ông Nguyễn Văn P tranh luận như sau:

Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về phần tội danh và các tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên đề nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất vì: Sau khi xảy ra vụ va chạm bị cáo đã gọi người đưa bị hại đi cấp cứu, có tác động đến gia đình để bồi thường khắc phục một phần hậu quả. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình đông anh chị em bị cáo phải nghỉ học từ sớm đi làm phụ giúp bố mẹ để nuôi em. Từ những lập luận nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Kiểm sát viên đối đáp: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra là phù hợp. Do đó Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm và không tranh luận gì thêm.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối lỗi về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo pháp luật của bị hại chị Ma Lê N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện vắng mặt tại phiên tòa, nhưng chị Ma Lê N, anh D, ông T2 đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh H1 đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; những người tham gia phiên tòa đồng ý xét xử vắng mặt họ, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[2] Về tội danh:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả giám định, phù hợp với vật chứng vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 24/01/2025, tại đoạn đường liên thôn gần cổng trường tiểu học xã M thuộc thôn M, xã M, huyện H, Phạm Hồng Q, sinh ngày 16/3/2008 (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô BKS 98H1- 232.03 chở Nguyễn Tiến D, sinh ngày 27/02/2008 ở cùng thôn tham gia giao thông không tuân thủ quy tắc, không chú ý quán sát, không chấp hành nghiêm hệ thống báo hiệu đường bộ, hiệu lệnh và chỉ dẫn của của hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn và chuẩn bị sẵn sàng xử lý những tình huống có thể xảy ra để phòng ngừa tai nạn giao thông nên phần đầu xe mô tô do Q điều khiển đã va chạm vào bà Ma Thị H đang đi bộ sang đường. Hậu quả làm bà H tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1, K 28 Điều 9 và khoản 1, Điều 10, điểm a, e Khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 và Điều 31 Quy chuẩn số 41/2019/BGTVT ban hành kèm theo thông tư 54/2019/TT-BGTVT ngày 31/12/2019 của Bộ G về báo hiệu đường bộ.

Như vậy, Cáo trạng số 37/CT-VKS-HH ngày 02/5/2025 truy tố bị cáo Phạm Hồng Q về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng cho bị hại, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.

[4] Về việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo: Lỗi của bị cáo là vô ý, khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra đã tác động để gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả, được đại diện bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử nhận định như sau: Bị cáo Phạm Hồng Q, sinh ngày 16/3/2008 (chưa có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô chở theo Nguyễn Tiến D tham gia giao thông không tuân thủ quy tắc, không chú ý quan sát, không chấp hành nghiêm hệ thống báo hiệu đường bộ, hiệu lệnh và chỉ dẫn của của hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn và chuẩn bị sẵn sàng xử lý những tình huống có thể xảy ra để phòng ngừa tai nạn giao thông. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý. Trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi, vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 30 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, coi đây là bài học để rèn luyện tu dưỡng bản thân, sống có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo phạm tội lần đầu, có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần cải tạo, giáo dục bị cáo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo mà vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục đối với bị cáo, phòng ngừa chung đối với toàn xã hội đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Phạm Văn T là bố đẻ của Phạm Hồng Q đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Ma Thị H số tiền 120.000.000 đồng. Đến nay, chị Ma Lê N (con đẻ bà H) là đại diện theo pháp luật của bà H không yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh Phạm Văn T không yêu cầu bị cáo phải trả cho anh số tiền đã bồi thường cho gia đình bà H nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98H1- 232.03, nhãn hiệu Hoda Wave Alpha, màu sơn xanh đăng ký mang tên Nguyễn Hữu M, sinh năm 1986 ở thôn B (nay là thôn P) xã L (nay là xã Q), huyện T là phương tiện thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Phạm Hồng Q do Q mua của anh Ngô Chí H1, sinh năm 1983 ở thôn Đ, xã S, huyện H nên cần trả lại cho bị cáo Q.

Đối với Nguyễn Văn D1 không bị thương tích, thiệt hại gì, D1 không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại Phạm Hồng Q 01 (một) xe mô tô BKS 98H1-232.03 nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn xanh nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo; đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 ; Điều 65; Điều 91 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 119; Điều 124; khoản 2 Điều 179 Luật số 59/2024/QH15 ngày 30/11/2024 Luật tư pháp người chưa thành niên.

  1. Về hình phạt và tội danh: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26/5/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Hồng Q.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại Phạm Hồng Q 01 (một) xe mô tô BKS 98H1- 232.03 nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn xanh nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  2. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Phạm Hồng Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - UBND xã Mai Trung của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 42/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hồng Quân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger