|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày: 22/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lại Văn Bảo và ông Nguyễn Trọng Quý.
Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Quỳnh Loan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Thị T; tên gọi khác: không; sinh ngày 09 tháng 10 năm 1962 tại A, Hải Phòng; nơi cư trú: tổ B, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn lớp: 7/10; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Phạm Văn T1; con bà: Bùi Thị K; chồng: Phạm Tô H (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 1983; nhân thân: năm 2009 Toà án nhân dân thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đã chấp hành xong bản án ngày 06/6/2011; tiền án, tiền sự: không; bị bắt khẩn cấp ngày 15/12/2024; có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Huy P; tên gọi khác: không; sinh ngày 01 tháng 12 năm 1957, tại V, Thái Bình; nơi cư trú: tổ B, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn lớp: 7/10; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn S; con bà: Phạm Thị X; vợ: Phạm Thị N; có 01 con sinh năm 1981; nhân thân: năm 1999, bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, đã chấp hành xong bản án; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 15/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Cao Văn D; sinh năm: 1970; nơi cư trú: tổ C, khu M, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
* Người làm chứng: anh Trần Văn K1; anh Trần Văn Đ; chị Nguyễn Thị H1 - đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Huy P và Cao Văn D có quen biết nhau vì cùng là người sử dụng ma túy Heroine. Khoảng 11 giờ ngày 15/12/2024, D gọi điện cho P hỏi mua 400.000 đồng ma túy Heroine. P đồng ý, hẹn giao dịch tại khu vực cổng Bệnh viện Đ1 thuộc phường C, thành phố C. D điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn biển số 14U1-102.58 đến, đưa tiền cho P. P bảo D đến sau khu vực nhà xác bệnh viện đợi lấy ma tuý. Còn P cầm tiền, điều khiển xe máy nhãn hiệu HondaWave gắn biển số 14K3-2380 đến nhà Phạm Thị T tại tổ B, khu G, phường C, mua của T 01 gói ma tuý Heroine với giá 400.000 đồng. P chia ma tuý thành hai gói, rồi đi đến điểm hẹn giao cho D một gói; gói còn lại cất trong người để bán sau thì bị Công an phường C và Công an thành phố C bắt quả tang. Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của P: 01 gói giấy chứa 0,102 gam ma túy Heroine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim 0345.575.xxx; 01 xe máy gắn biển số 14K3-2380.
Thu của D: 01 gói giấy chứa 0,045 gam ma túy Heroine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme gắn sim 0339.650.204; 01 xe máy gắn biển số 14U1-102.58.
Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở của T, thu giữ của T: 01 túi nilon lớn đựng 11 túi nilon nhỏ đều chứa ma túy Heroine có tổng khối lượng 0,515 gam; 400.000 đồng (01 tờ 200.000 đồng, 02 tờ 100.000 đồng); 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia TA-1375 gắn sim 0813.796.833.
Tại Kết luận giám định số 1894/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận số ma tuý thu giữ của Cao Văn D, Phạm Thị T, Nguyễn Huy P đều là Heroine.
Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra T còn khai: T sử dụng ma túy Heroine từ năm 2008. Số ma túy bị thu giữ và bán cho P là người đàn ông tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) thuê T bán để được hưởng lãi 20%. Thoa chia nhỏ ma tuý vào các tờ giấy, túi nilon rồi cất giấu tại phòng bếp để bán giá từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng. T không biết và không tham gia việc P chia số ma tuý. P khai số ma tuý mua được của T, P chia ra làm 2 phần, 1 phần bán cho D một phần còn lại P giữ với mục đích để bán.
Tại bản Cáo trạng số: 1348/CT-VKSCP ngày 08/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và thông báo về việc đính chính nội dung cáo trạng số 1738/CV-VKSCP ngày 15/5/2025 truy tố Phạm Thị T và Nguyễn Huy P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như bản cáo trang đã truy tố và thông báo về việc đính chính nội dung cáo trạng số 1738/CV-VKSCP ngày 15/5/2025 và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Thị T mức án từ 33 (ba mươi ba) tháng đến 39 (ba mươi chín) tháng tù; xử phạt Nguyễn Huy P mức án từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù.
Căn cứ: điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 1894 và 02 sim điện thoại của T và P. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone; 01 điện thoại Nokia và số tiền 400.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; phù hợp với lời khai của anh Cao Văn D – là người đã mua ma tuý của bị cáo P; phù hợp với lời khai của anh Trần Văn K1; anh Trần Văn Đ về thời gian, địa điểm họ chứng kiến công an bắt giữ P khi P bán ma tuý cho D, loại ma tuý bị thu giữ; phù hợp với biên bản khám xét; các bị cáo nhận diện được nhau, anh D nhận dạng được người bán ma tuý cho mình là Nguyễn Huy P qua ảnh; phù hợp với các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với các biên bản làm việc xác định địa điểm giao nhận ma tuý và tiền của bị cáo T, bị cáo P và Cao Văn D; phù hợp với bản ảnh vật chứng; phù hợp với biên bản kiểm tra điện thoại. Tại kết luận giám định số 1894/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q thể hiện chất ma tuý thu giữ của T, P và Cao Văn D là: Heroine.
Với các chứng cứ trên cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ ngày 15/12/2024, tại tổ B, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Thị T có hành vi bán trái phép 0,147 gam ma túy Heroine với giá 400.000đ cho Nguyễn Huy P và còn tàng trữ 0,515 gam ma túy Heroine mục đích để bán. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, tại tổ A khu G, phường C, P đã bán trái phép 0,045g ma túy Heroine với giá 400.000₫ cho Cao Văn D để sử dụng và tàng trữ 0,102 gam ma tuý Heroine nhằm mục đích để bán, thì bị Công an bắt quả tang. Hành vi mua bán ma tuý của Phạm Thị T, Nguyễn Huy P đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Việc truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy đồng thời tiếp tay cho các đối tượng mua bán, nghiện hút ma tuý khác gây mất ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo phạm tội độc lập. Bị cáo T và bị cáo P mỗi người bán ma tuý 1 lần; cùng tàng trữ một số lượng ma tuý với mục đích để tiếp tục bán kiếm lười song bị cáo T tàng trữ số lượng ma tuý lớn (0,515 gam) hơn P( 0,102 gam) nên bị cáo T có mức án cao hơn bị cáo P.
[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: các bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng đều có nhân thân xấu cả hai bị cáo đã cùng bị xét xử về tội phạm ma tuý. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho cả 2 bị cáo. Bị cáo T là con gái ông Phạm Văn T1 là người được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì và nhiều giấy khen, bằng khen khác trong quá trình công tác nên áp dụng thêm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét các bị cáo là đối tượng không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng.
[6] Về vật chứng: số ma tuý Cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án sau giám định hoàn lại 0,13 gam heroine và toàn bộ vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 1894/KL-KTHS ngày 20/12/2024 là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
Thu giữ của bị cáo T số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng là tiền mua bán ma tuý cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại N1 màu đen thu giữ của T và điện thoại Iphone màu vàng thu giữ của P là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tôi nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. 02 sim điện thoại kèm theo 02 chiếc điện thoại trên là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme gắn sim 0339.650.204 cơ quan điều tra đã trả lại cho Cao Văn D nên không đề cập;
Đối với xe máy biển số 14K3-2380 thu của P: xác định nguồn gốc của anh Vũ Trung P1 mua và đứng tên đăng ký, đã bán lại cho cửa hàng xe máy cũ (không rõ địa chỉ) từ năm 2012. Theo P khai, mua lại của người đàn ông không quen biết, không có giấy tờ kèm theo. Cơ quan điều tra đã Thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả nên cần tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với xe máy biển số 14U1-102.58 thu của D đã xác định được, biển số trên là của xe khác đăng ký và có dấu hiệu bị làm giả, xe bị đục số khung số máy; D khai mua của người không quen biết từ 2023, không có giấy tờ. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả nên cần tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với người đàn ông tên T2 không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên không đề cập.
Riêng Cao Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,045g Heroine để sử dụng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an tỉnh Q đã quyết định xử phạt hành chính là thoả đáng.
[7] Về án phí: bị cáo T, P là người cao tuổi được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T).
Tuyên bố: Phạm Thị T, Nguyễn Huy P phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Phạm Thị T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 15/12/2024.
Xử phạt: Nguyễn Huy P 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 15/12/2024.
Về vật chứng: căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 1894/KL-KTHS của phòng K2 công an tỉnh Q và 02 sim điện thoại;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng của Nguyễn Huy P, 01 điện thoại Nokia màu đen của Phạm Thị T;
Tịch thu nộp ngân sách số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) theo biên bản giao nhận tài sản số 04/2025/BBGN-CQCSĐTCATPCP ngày 20/01/2025 của cơ quan CSĐT công an thành phố C (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q) và Kho bạc nhà nước C (nay là phòng G Kho bạc Nhà nước khu vực III);
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 73/BB-THA ngày 11/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: miễn án phí hình sự sơ thẩm cho cả hai bị cáo.
Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Lan Anh |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 2 bị cáo T, P mua bán trái phép chất ma tuý
