|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày: 16/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mười và Nguyễn Quang Hợp
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Đ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/4/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số: 20/TLST-HS ngày 05/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn T; Giới tính: Nam; sinh ngày 19/02/1986
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng chính quyền đoàn thể: Không
Con ông: Vũ Văn V, đã chết và con bà: Bế Thị H, sinh năm 1958; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Triệu Thị L, sinh năm 1991, có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến ngày 19/6/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng N. Giới tính: Nữ; Sinh ngày 18/7/1982
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ, đảng chính quyền đoàn thể: Đảng viên chi bộ công ty cổ phần Đ7 Đảng bộ xã B đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 20/02/2025; Con ông: Nguyễn Văn D, đã chết và con bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1957; Gia đình có 5 anh em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Chồng: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980 (ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007.
- Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Có mặt chị Triệu Thị L còn lại vắng mặt
Trần Thị T1, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Xã B, xã S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đỗ Thị H1, sinh năm 1981.
Địa chỉ: TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phạm Thị Phương L1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phan Thị Thanh L2, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm B, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Cam Thị X, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lê Thị K, sinh ngày 1993.
Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đinh Thị T2, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Thu H2, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Xóm Q, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Thị H3, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm B, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lã Thị Kim T3, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Xóm B, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Cầm Thị T4, sinh năm 1998.
Địa chỉ: TDP G, TT H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị H4, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Tổ F, T, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
Lưu Thùy D1, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Văn M, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị T5, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Xóm A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lý Thu T6, sinh năm 1987.
Địa chỉ: K, Hoàng Văn T7, TP ., tỉnh Lạng Sơn.
Phạm Bá T8, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bùi Thị T9, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nông Thúy N2, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Bản P, L, huyện T, tỉnh Cao Băng.
Triệu Thị X1, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm H, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đào Ánh N3, sinh năm 2004.
Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Văn L3, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Văn M1, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lường Thị Thu H5, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thế N4, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Xóm Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Văn H6. sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trịnh Quốc H7, sinh năm 2004.
Địa chỉ: Tổ H, Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên.
Đặng Thị H8, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị Đ1, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Xóm V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị D2, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bùi Phương T10, sinh năm 2001.
Địa chỉ: TDP C, TT H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Tiến Đ2, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Võ Thị N5, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Thị Đ3, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Dương Công H9, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Xóm R, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Bùi N6, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Xóm R, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Văn Thị N7, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị P, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phạm Ngọc M2, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Xóm Y, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Mỹ H10, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Thôn D, H, huyện S, tỉnh Bắc Giang
Phùng Anh T11, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Đức H11, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Văn B, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đặng Văn C, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị D2, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị D3, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị P1, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Xã Q, huyện T, Phú Thọ.
Bùi Thị N8, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Quốc N9, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Xóm A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Tô Thị L4, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lý Thị C1, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đinh Thị H12, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Vũ Thị L5, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Cam Thị H13, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Không Thị H14, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Làng N, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Hà Minh S, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Vũ Thị Phương A, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm P, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Lập H15, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị Tố U, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thanh T12, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Xóm I, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lâm Thị N10, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm K, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị T13, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị H16, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị T14, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Xóm M, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lăng Viết L6, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Văn T15, sinh năm 1991.
Địa chỉ: A, TT. H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bùi Ngọc C2, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Xóm H, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị T16, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Thị T17, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Sâm Thị Q1, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Thị N11, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị L7, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm K, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đỗ Thị H17, sinh năm 2000.
Địa chỉ: T. Dâu, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
Η PEN ÊBAN, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Buôn C, K, Đ.
Ngô Thị T18, sinh năm 1978.
Địa chỉ: TDP Sơn T, TT H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị N12, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Chu Văn H18, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lý Thị T19, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phạm Thị Hồng V1, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị Hồng H19, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Đông A1, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xóm H, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Văn K1, sinh năm 2000.
Địa chỉ: TDP V, TT. H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Vũ Thị T20, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị T21, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Tạ Thị T22, sinh năm 1979.
Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trương Thị M3, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Tiên Q2, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Vương Thị S1, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị T23, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm M, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị H20, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị Hải H21, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Xóm V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị S2, sinh năm 1988.
Địa chỉ: TDP L, TT. H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Dương Thị L8, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xóm S, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hứa Thị N13, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lý Thị N14, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bùi Thị D4, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị H21, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Triệu Thị Thu T24, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Xóm C, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lưu Thị Đ4, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị T25, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Vũ Thị L9, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nông Văn T26, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm V, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bàn Đức D5, sinh năm 2006.
Địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lý Thị H22, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị D6, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Vũ Thị L10, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị S3, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lê Thị T27, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lê Thị N15, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị A2, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị Thu T28, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đường Thị B1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm C,xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lý Văn C3, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Trần Thị N16, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Làng T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị Ú, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lục Thị H23, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị Đ5, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đặng Thị C4, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm H, xã P, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
Lê Thị T29, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm R, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Thị Y, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm C, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị T30, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Vũ Thị N17, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lường Thị Thùy D7, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm Đ, huyện P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lê Thị H24, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Xóm P, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
La Thị N18, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phan Thị L2, sinh năm 1986.
Địa chỉ: xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lê Xuân H25, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ninh Văn L11, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Khánh N19, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lý Thị T31, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị D3, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Xóm A, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Ôn Ngọc T32, sinh năm 2004.
Địa chỉ: Xóm Đ, TT. C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Văn H26, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị M4, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Xóm G, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Trình Thị Hồng N20, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Diệp Ngọc H27, sinh năm 2004.
Địa chỉ: C, xã B, TP ., tỉnh Hải Dương.
Vàng Thị L12, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Xóm S, xã S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị D8, sinh năm 2000.
Địa chỉ: T. 7, TT. Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Lan H28, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị Thu H29, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Xóm V, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lê Thị T29, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ D, Khu A, Q, TP ., tỉnh Quảng Ninh.
Phương Thị Thu H30, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị C5, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Xóm K, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị D9, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Thị T33, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Xóm V, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phan Thị Kim O, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phan Văn T34, sinh năm 2004.
Địa chỉ: Xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị M5, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Xóm V, xã S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phạm Thị D10, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm P, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị H31, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Triệu Thị L13, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Xóm R, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phùng Thị T35, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị T36, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Xóm K, xã Ô, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thanh L14, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xóm F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Văn T37, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Triệu Thị Q3, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Xóm R, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị M6, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm T, xã S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị L15, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đào Thị H32, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trình Thị Thu H33, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị O1, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm D, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị B2, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị L16, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm Na Sơn, Phúc Lương, Đại Từ
Trần Thế M7, sinh năm 2002.
Địa chỉ: T. 5, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bùi Thị M8, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị T38, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Xóm R, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Đào Thị L17, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đinh Thị G, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Tổ H, phường Q, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị T39, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lò Thị T40, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Bản H, B, M, tỉnh Điện Biên.
Nguyễn Huy S4, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Khu Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Bùi Thị D11, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Làng N, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Vũ Thị H34, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị D12, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị C6, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lương Thị K2, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ngô Thị T41, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Xóm V, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Phạm Văn K3, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị L18, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lữ Thị N21, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Tạ Thị H35, sinh năm 1984.
Địa chỉ: TDP C, TT. Đu, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị C7, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị C8, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ngô Thị Lưu L19, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị A3, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị T42, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị T43, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Tiến T44, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị G1, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xóm L, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Trọng H36, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Xóm C, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị Hồng V2, sinh năm 1975.
Địa chỉ: D, TT. Đu, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị T45, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Thị T46, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hầu Văn H37, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Thị P2, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xóm A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị P, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Phường M, TP ., tỉnh Phú Thọ.
Nông Thị Lan A4, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Lê thị T47, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Nguyễn Thị Y1, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Triệu Thị K4, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Dương Công H38, sinh năm 2005.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trần Văn B3, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Ma Thị M9, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Triệu Thị H39, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hoàng Văn T48, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Xóm L, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Anh Vũ Văn Đ6, sinh năm 1998
Địa chỉ: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Chị Lưu Thị T49, sinh năm 1998
Địa chỉ: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Nguyễn Thị Q4:
Địa chỉ: Xóm Đ, X, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Bế Xuân T50, sinh năm 1978
Địa chỉ: xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Phùng Quang T51, sinh năm 1990
Địa chỉ: B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên
Triêu Thị L20, sinh năm 1991
Địa chỉ: Xóm Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Người chứng kiến: Anh Lê Văn V3, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 45 phút ngày 17/4/2024, Tổ công tác Công an huyện Đ tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn xóm Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện tại cửa hàng phôtôcopy của Vũ Văn T đang có hành vi bán 04 tờ "Giấy khám sức khoẻ" của Bệnh viện T52, trong đó có 02 tờ giấy khám sức khoẻ ghi tên Vũ Văn Đ6 và 02 tờ giấy khám sức khoẻ ghi tên Lưu Thị T49, (trên mỗi tờ giấy khám sức khoẻ này đều có dấu tròn mực màu đỏ của Bệnh viện T52) cho Vũ Văn Đ6, sinh năm 1998, trú tại xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. T khai nhận: 04 tờ giấy khám sức khoẻ là do T tự làm tại quán phô tô của T, không phải do Bệnh viện T52 ban hành, bản thân T không có chức năng, thẩm quyền để làm các giấy khám sức khoẻ này nhưng T đã tự làm giả để bán kiếm lời. Ngày 17/4/2024, Đ6 đến phô tô căn cước công dân và hỏi mua 04 giấy khám sức khoẻ nên T đồng ý và bán với giá 200.000 đồng/01 giấy. Khi T đang đưa 04 giấy khám sức khoẻ do T tự làm cho Đ6 thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm:
- + 04 tờ “Giấy khám sức khỏe”, trong đó 2 tờ ghi tên Lưu Thị T49 và 2 tờ ghi tên Vũ Văn Đ6, trên giấy có chữ viết bằng mực màu xanh và hình dấu tròn của Bệnh viện T52. Niêm phong vào bì giấy ký hiệu QT1.
- + 01 tờ giấy A4, trên giấy có hình ảnh phô tô căn cước công dân số [...], ghi tên Vũ Văn Đ6.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu hồng, tình trạng cũ, đã qua sử dụng. Niêm phong vào phong bì giấy ký hiệu QT2.
- + 01 chiếc bút bi nhãn hiệu TL, mực màu xanh, niêm phong vào phong bì ký hiệu QT3.
- + 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung 52Xmax, đã qua sử dụng và 01 bàn phím màu đen nhãn hiệu Fuhlen đã qua sử dụng. Được niêm phong vào hộp giấy ký hiệu QT4.
- + 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung, đã qua sử dụng, được niêm phong vào thùng giấy ký hiệu QT5.
- + 01 máy in màu nhãn hiệu Canon PIXMA, đã qua sử dụng được niêm phong vào thùng giấy ký hiệu QT6.
Căn cứ tài liệu xác minh. Hồi 19 giờ 20 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Vũ Văn T. Kết quả khám xét phát hiện, thu giữ:
- Phát hiện thu giữ trong buồng ngủ tại nhà T: 01 hộp giấy bên ngoài in dòng chữ Sữa chua Ba Vì, kích thước hộp giấy: 21cmx13cmx11,5cm. Bên trong hộp giấy có:
- + 01 nắp nhựa màu hồng, đường kính 3,5cm, cao 1,5cm;
- + 01 nắp nhựa màu trắng, đường kính 2,6cm; cao 1,1cm;
- + 01 nắp nhựa màu hồng, đường kính 3,5cm, cao 1,5cm; 02 chiếc bút mực nước, có vỏ bằng nhựa màu trắng đỏ, kích thước dài 15cm, đường kính 0,7cm, ruột bút mực có màu đỏ, nhãn hiệu MG 07 gel pen, đã qua sử dụng. (Tiến hành niêm phong vào hộp giấy ký hiệu A1)
(T khai nhận những đồ vật trên T dùng để vẽ đường giáp lai dấu tròn trên ảnh khi có khách có nhu cầu muốn mua giấy khám sức khoẻ giả);
- Tại cửa hàng "Vũ Thịnh photocopy" Vũ Văn T tự nguyện giao nộp:
- + 01 phôi "Giấy khám sức khoẻ" của Bệnh viện T52, bên trên có in dấu tròn của Bệnh viện T52; in các dấu vuông "Đã thu tiền", "Âm tính", "X-Q2 tim phổi bình thường"; "Hiện đủ sức khoẻ để học tập công tác".
- + 01 "Giấy khám sức khoẻ" ghi tên Nguyễn Thị Q4, tuổi 32, chỗ ở hiện nay: "M, Đ, Thái Nguyên. Có dán ảnh và in dấu giáp lai của Bệnh viện T52.
- + 02 "Giấy khám sức khoẻ" ghi tên Bế Xuân T50 tuổi 43, chỗ ở hiện nay: P, Đ, Thái Nguyên; trong đó, 01 giấy khám sức khoẻ đã dán ảnh và in dấu giáp lai của Bệnh viện T52;
- + 02 "Giấy khám sức khoẻ" ghi tên Phùng Quang T51" tuổi 34, chỗ ở hiện nay: B, Sông C, Thái Nguyên, đã được dán ảnh và dấu giáp lai của Bệnh viện T52;
(T khai nhận tất cả các tài liệu, giấy tờ trên là của T, trong đó, 01 phôi giấy khám sức khoẻ được T in từ máy tính trong phôi giấy khám sức khoẻ theo mẫu đã có sẵn trong máy tính do T đã tải về và chỉnh sửa từ trước, sau đó, chèn các loại dấu của Bệnh viện T52 vào phôi giấy khám sức khoẻ đó và in màu ra).
(Tiến hành niêm phong vào bìa hồ sơ ký hiệu A2)
- Thu giữ nhiều tài liệu, giấy tờ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại quán P4 "Vũ Thịnh P3". (Niêm phong vào hộp giấy ký hiệu A3).
(T khai nhận đây là giấy tờ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người dân mang đến nhờ T đánh máy hộ để làm hồ sơ, giấy tờ đất đai).
Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra và kiểm tra dữ liệu trong chiếc điện thoại di động thu giữ của T phát hiện, ngoài việc làm giấy khám sức khỏe giả cho Đ6 và một số người khác, T thường xuyên làm giấy khám sức khỏe giả cho Nguyễn Thị Hồng N là nhân viên phụ trách tuyển dụng nhân sự của Công ty cổ phần Đ7 có địa chỉ tại xóm P, xã B, huyện Đ (gọi tắt là Công ty Đ7).
Căn cứ các tài liệu điều tra xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ đã triệu tập N đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra N khai nhận đặt T làm nhiều giấy khám sức khỏe giả cho người lao động có nhu cầu vào làm việc tại Công ty Đ7.
Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Công ty Đ7 và thu giữ được 205 giấy khám sức khỏe của những người lao động mà N tuyển dụng vào làm việc tại Công ty Đ7 (Công ty còn lưu giữ hồ sơ).
Căn cứ các tài liệu điều tra xác minh, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K5 - Công an tỉnh T giám định tài liệu đối với các vật chứng thu giữ khi bắt quả tang và 205 giấy khám sức khỏe do Công ty Đ7 giao nộp.
Tại bản kết luận giám định số 550 ngày 26/04/2024 của Phòng K5, Công an tỉnh T kết luận:
+ Chữ ký của người kết luận trong 09 giấy khám sức khỏe gửi giám định không trùng khớp với mẫu chữ ký của Bệnh viện T52 cung cấp.
+ Dấu tròn Bệnh viện T52 trên 09 giấy khám sức khỏe và 01 phôi giấy khám sức khỏe gửi giám định là con giấu giả, được làm bằng phương pháp in phun màu.
Tại kết luận giám định số 872 ngày 31/7/2024 của Phòng K5, Công an tỉnh T kết luận:
1. Hình dấu tròn đỏ có nội dung “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN T52” trên mẫu cần giám định ký hiệu từ TL1.1 đến TL1.98, từ GĐ2.1 đến GĐ2.94, từ GĐ3.1 đến GĐ3.10, GĐ3.12, GĐ3.13 là giả bằng phương pháp in phun màu. Hình dấu tròn đỏ có nội dung “BỘ Y TẾ - BỆNH VIỆN T52” trên mẫu cần giám định ký hiệu GĐ3.11 so với hình dấu tròn đỏ có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một con dấu đóng ra.
2. Chữ ký mang tên PGS.TS Nguyễn Công H40 trên mẫu cần giám định ký hiệu từ TL1.1 đến TL1.6, từ TL1.13 đến TL1.26, từ TL1.28 đến TL1.32, TL1.35, từ TL1.37 đến TL1.42, từ TL1.44 đến TL1.46, từ TL1.48 đến TL1.55, GĐ2.8, GĐ3.6, GĐ3.11 so với chữ ký mang tên Nguyễn Công H40 không phải do cùng một người ký ra.
Chữ ký mang tên PGS.TS Nguyễn Công H40 trên mẫu cần giám định ký hiệu từ TL1.7 đến TL1.12, TL1.27, TL1.33, TL1.34, TL1.36, TL1.43, TL1.47, từ TL1.56 đến TL1.98, từ GĐ2.1 đến GĐ2.7, từ GĐ2.9 đến GĐ2.94, từ GĐ3.1 đến GĐ3.5, từ GĐ3.7 đến GĐ3.10, GĐ3.12, GĐ3.13 là giả bằng phương pháp in phun màu
Tại cơ quan điều tra Vũ Văn T và Nguyễn Thị Hồng N cùng khai nhận như sau: Từ tháng 2/2018 T mở quán photocopy tại xóm Q, xã B, huyện Đ.Trong quá trình làm phôtôcopy, từ khoảng năm 2020, T thấy có nhiều người dân đến quán phô tô giấy tờ tùy thân để làm hồ sơ xin việc, trong hồ sơ yêu cầu phải có giấy khám sức khỏe của bệnh viện nên T nảy sinh ý định làm “Giấy khám sức khỏe” giả để bán cho những người này lấy tiền tiêu xài.
Để thực hiện việc làm giấy khám sức khỏe giả, T tìm trên mạng xã hội Facebook để đặt mua phôi giấy khám sức khỏe giả đã đóng dấu đỏ của Bệnh viện đa khoa tỉnh T52 của một người không quen biết với giá từ 50.000đ đến 90.000đ/01 giấy khám sức khỏe. Sau đó Thịnh điền thông tin và dán ảnh của khách hàng rồi bán lại. Từ khoảng tháng 12/2023 T không mua phôi giấy khám sức khỏe nữa mà tự mình làm giấy khám sức khỏe giả. T lên mạng internet rồi tải file word có mẫu “Giấy khám sức khỏe" về máy tính bản tại quán phô tô rồi in mẫu phôi “Giấy khám sức khỏe” ra giấy A3. Sau đó dùng ứng dụng "CorelDRAW(G)” tạo hình dấu tròn của Bệnh viện T52 màu đỏ, hình dấu vuông có chữ “ĐÃ THU TIÊN” màu đỏ, hình dấu vuông có chữ “ÂM TÍNH (-)” màu đỏ, hình dấu vuông có chữ “X-QUANG TIM PHỔI BÌNH THƯỜNG” màu đỏ, dấu hình vuông có dòng chữ “HIỆN ĐỦ SỨC KHỎE 2 ĐỂ HỌC TẬP - CÔNG TÁC” màu xanh và tên các bác sỹ khám màu xanh. Sau đó, dùng máy in tại quán để in đè các dấu này lên tờ phôi “Giấy khám sức khỏe”. Thịnh in thử nhiều lần và chỉnh sửa nhiều lần để các dấu và các chữ ký này phù hợp với vị trí trên phôi “Giấy khám sức khỏe”. Sau khi làm được phôi có dấu đỏ, khi có người đến quán phô tô của T để phô tô giấy tờ tùy thân để làm hồ sơ xin việc, thì T nói với họ rằng nhận làm “Giấy khám sức khỏe”, (T không nói cho họ biết đó là giấy khám sức khỏe giả). Sau đó, nếu ai đồng ý làm thì họ cung cấp thông tin gồm ảnh chụp chân dung, hình ảnh căn cước công dân của họ. Sau đó, T tải ảnh chụp chân dung của những người này lên máy tính tại quán, dùng phần mềm “Adobe Photoshop” để sửa ảnh của họ thành ảnh thẻ cỡ 4x6, sau đó in ảnh thẻ ra giấy bằng máy in màu tại quán. Thịnh dán ảnh vào phôi “Giấy khám sức khỏe” đã có hình dấu của Bệnh viện T52, rồi dùng nắp nhựa và bút màu đỏ để tô hình dấu giáp lai trên ảnh, dùng bút mực xanh để ký tên tại vị trí chữ ký của các bác sỹ trong “Giấy khám sức khỏe” và ký tên của lãnh đạo Bệnh viện T52 vào phần “Người kết luận” trong “Giấy khám sức khỏe”, T ghi thông tin trên “Giấy khám sức khỏe” theo thông tin từ căn cước công dân. Mỗi tờ “Giấy khám sức khỏe” giả, tại thời điểm khi bắt đầu làm T bán với giá 180.000 đồng (Một trăm tám mươi nghìn đồng). Theo thời gian thì tăng giá dần, đến thời điểm bị bắt quả tang ngày 17/4/2024 thì bán với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Nguyễn Thị Hồng N là nhân viên phụ trách tuyển dụng người lao động của Công ty cổ phần Đ7. Quá trình tuyển dụng người lao động vào làm việc bắt buộc trong hồ sơ phải có giấy khám sức khỏe nên khi biết T có khả năng làm giấy khám sức khỏe nhanh mà người lao động không cần phải đến Cơ sở y tế để khám sức khỏe. N biết T làm giấy khám sức khỏe giả nên N đã liên hệ với T để đặt T làm giấy khám sức khỏe giả cho người lao động có nhu cầu vào làm việc tại Công ty Đ7. Khi có người lao động có nhu cầu xin việc làm thì N hướng dẫn làm hồ sơ xin việc trong đó yêu cầu phải có giấy khám sức khỏe thì N nói với người lao động chỉ cần chụp ảnh chân dung và ảnh căn cước công dân thì N sẽ giúp làm giấy khám sức khỏe để cho vào hồ sơ và mỗi lần như vậy Nhung thu của người lao động từ 200.000đ đến 250.000đ. Sau khi có thông tin của người lao động thì N gửi thông tin cho T để T làm giấy khám sức khỏe. N biết việc để khám sức khỏe, người lao động cần đến cơ sở y tế được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép mới có giá trị và biết việc T làm giả giấy khám sức khỏe cho người lao động nhưng vẫn thực hiện việc đặt T làm giấy khám sức khỏe giả. Mỗi giấy khám sức khỏe giả N chỉ thanh toán cho T số tiền từ 130.000đ đến 150.000đ bằng hình thức chuyển khoản hoặc tiền mặt.
Bằng hình thức như nêu trên, trong khoảng thời gian từ năm 2020 cho đến ngày bị phát hiện, T đã làm giả nhiều giấy khám sức khỏe, thu lợi bất chính khoảng 100.000.000đ. N đặt T làm giả nhiều giấy khám sức khỏe giả, thu lời bất chính khoảng 10.000.000đ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu thập và chứng minh được T đã làm giả 214 giấy khám sức khỏe giả, N đặt T làm giả 205 giấy khám sức khỏe giả. Tính bình quân một giấy khám sức khỏe giả N phải thanh toán cho T 150.000đ, do vậy số tiền thu lời bất chính của T khoảng 32.000.000đ và của N được hưởng chênh lệch khoảng 30.000đ một giấy khám sức khỏe, do đó số tiền thu lời bất chính của N khoảng 6.000.000đ (còn lại không thu giữ được giấy tờ tài liệu nên không có căn cứ chứng minh là tài liệu giả và không chứng minh được số tiền T và N thu lời bất chính là bao nhiêu).
Ngày 17/4/2024 khi T đã làm xong 04 giấy khám sức khỏe giả cho anh Vũ Văn Đ6 thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng và các tài liệu thu giữ của vụ án gồm: 09 (Chín) Giấy khám sức khoẻ giả và 01(một) phôi Giấy khám sức khoẻ giả có đóng dấu đỏ của Bệnh viện T52, thu giữ trong quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp đối với Vũ Văn T và 205 (Hai trăm linh năm) Giấy khám sức khoẻ giả thu giữ tại Công ty Cổ phần Đ7 được lưu giữ trong hồ sơ vụ án; 02 nắp nhựa màu hồng, 01 nắp nhựa màu trắng, 02 chiếc bút mực nước có vỏ bằng nhựa màu trắng đỏ được niêm phong trong hộp niêm phong ký hiệu A1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu hồng, thu giữ của Vũ Văn T được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu ĐT; 01 chiếc bút bi nhãn hiệu TL, mực màu xanh niêm phong vào bì niêm phong ký hiệu QT3; 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung 52Xmax, đã qua sử dụng và 01 bàn phím màu đen nhãn hiệu Fulhen đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp carton ký hiệu QT4; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung, đã qua sử dung được niêm phong trong thùng carton ký hiệu QT5; 01 màn máy in nhãn hiệu Canon Pixma, đã qua sử dụng được niêm phong trong thùng carton ký hiệu QT6; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị Hồng N được niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu ĐTN; Số tiền 20.000.000 đồng tiền ngân hàng N22 tạm giữ của Vũ Văn T tự nguyện giao nộp, là tiền thu lợi bất chính, đã được nộp vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện Đ; Số tiền 10.000.000 đồng tiền ngân hàng N22 tạm giữ của Nguyễn Thị Hồng N tự nguyện giao nộp, là tiền thu lợi bất chính, đã được nộp vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện Đ.
Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Đối với các tài liệu liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân thuộc xã B, huyện Đ và tài liệu photo của UBND xã B đã được trả lại cho chủ sở hữu quản lý sử dụng.
Bản cáo trạng số 23/CT-VKSĐT ngày 27/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Vũ Văn Thịnh và Nguyễn Thị Hồng N về tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa các bị đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; thừa nhận việc truy tố, xét xử các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Bản cáo trạng số 23/CT-VKSĐT ngày 27/01/2025, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn T và Nguyễn Thị Hồng N về tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Áp dụng điểm a khoản 3 điều 341 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Vũ Văn T, Nguyễn Thị Hồng N mỗi bị cáo 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 5.000.000đ đến 10.000.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu hồng, 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung 52Xmax, 01 bàn phím màu đen nhãn hiệu Fulhen, 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung, 01 màn máy in nhãn hiệu Canon Pixma thu giữ của Vũ Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, thu giữ của Nguyễn Thị Hồng N
- - Tịch thu tiêu huỷ: 02 nắp nhựa màu hồng, 01 nắp nhựa màu trắng, 02 chiếc bút mực nước có vỏ bằng nhựa màu trắng, 01 chiếc bút bi nhãn hiệu TL, mực màu xanh không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Buộc bị cáo T nộp số tiền 32.000.000 đồng thu lời bất chính sung công quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 20.000.000 đồng bị cáo nộp trong giai đoạn điều tra, còn phải nộp tiếp 12.000.000 đồng. Buộc bị cáo N nộp số tiền 6.000.000 đồng thu lời bất chính sung công quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng bị cáo nộp trong giai đoạn điều tra.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xét xem cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật được cái tạo tại địa phương để chăm sóc gia đình và sửa chữa lỗi lầm trở thành công dân có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên toà vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến nhưng tại cơ quan điều tra đã có lời khai, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292, 293 bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến ngày 17/4/2024 Vũ Văn T là chủ quán photocopy tại xóm Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên do người lao động có nhu cầu làm giấy khám sức khoẻ để xin việc nên Vũ Văn T đã thực hiện hành vi làm giả 214 giấy khám sức khỏe, thu lời bất chính khoảng 32.000.000đ. Nguyễn Thị Hồng N do người lao động có nhu cầu muốn làm giấy khám sức khoẻ để xin làm việc tại Công ty Đ7 nên đã đặt T làm giả 205 giấy khám sức khỏe giả cho người lao động, thu lời bất chính khoảng 6.000.000đ. Ngày 17/4/2024 khi T làm giả 04 giấy khám sức khỏe cho anh Vũ Văn Đ6 thì bị Tổ công tác, Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi làm giả 214 tài liệu của Vũ Văn T và hành vi làm giả 205 tài liệu của Nguyễn Thị Hồng N đã phạm vào tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức .. thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên...”
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xét về tính chất hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng xâm phạm trực tiếp sự hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ và còn gây mất trật tự trị an xã hội nên cần được xử lý nghiêm mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự tổ chức, phân công, câu kết một cách chặt chẽ. Bị cáo T là chủ quán photo copy khi người lao động có nhu cầu xin giấy khám sức khoẻ để xin việc làm thì là người trực tiếp công việc in ấn, làm giả tài liệu, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò chính. Còn bị cáo N thực hiện hành vi với vai trò giúp sức do trong quá trình tuyển dụng lao động khi người lao động cần làm giấy khám sức khoẻ để hoàn thiện hồ sơ xin việc thì N đã móc nối đặt T làm giả giấy khám sức khoẻ cho người lao động.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra quá trình điều tra, bị cáo Vũ Văn T đã tự nguyện nộp được 20.000.000 đồng tiền thu lời bất chính; Gia đình bị cáo Vũ Văn T tích cực hiến đất mở rộng đường nông thôn, đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương đồng ý xác nhận.
Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N đã tự nguyện nộp được số tiền 10.000.000 đồng tiền thu lời bất chính. Bị cáo N có bà nội và bố là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương kháng chiến, gia đình tích cực hiến đất mở rộng đường giao thông nông thôn, quá trình công tác được L21, C9, Liên đoàn lao động tỉnh T tặng nhiều bằng khen, giấy khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua lao động; Lãnh đạo công ty Đ7 nơi bị cáo vẫn đang công tác có đơn xác nhận bị cáo N có nhiều thành tích đóng góp trong công tác sản xuất, kinh doanh của công ty nên đề nghị Toà án xem xét giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo được tiếp tục công tác làm việc tại công ty; đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương đồng ý xác nhận; Công ty T53 xác nhận bị cáo N đã bỏ toàn bộ chi phí cho toàn bộ người lao động có giấy khám sức khoẻ giả đi khám lại sức khoẻ theo quy định.
Vì vậy bị cáo T và N được hưởng thêm nhiều tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của BLHS.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân cũng như vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án, HĐXX thấy rằng: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Nhưng các bị cáo vì hám lợi mà lao vào con đường vi phạm pháp luật dẫn đến hậu quả các bị cáo phải đứng trước phiên tòa ngày hôm nay. Các bị cáo thực hiện làm giả tài liệu là giấy khám sức khoẻ để cho công nhân người lao động có nhu cầu xin việc làm công nhân may tại công ty Đ7. Trong số 214 giấy khám sức khoẻ bị cáo T làm giả thì có 9 giấy khám sức khoẻ chưa được sử dụng, còn 205 giấy khám sức khoẻ T và N làm cho công nhân công ty Đ7 đến khi bị phát hiện họ đều đã được đưa đi khám sức khoẻ lại theo đúng quy định, không để lại hậu quả nào xảy ra liên quan đến việc dùng giấy khám sức khoẻ giả.
Xét thấy hành vi phạm tội của T và N không còn nguy hiểm cho xã hội, không để lại hậu quả gì và các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. HĐXX thấy rằng không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng, cải tạo giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương để các bị cáo có cơ hội học tập làm việc rèn luyện tu dưỡng bản thân, sửa chữa lỗi lầm, làm chỗ dựa cho gia đình và là công dân có ích cho xã hội vẫn đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của BLHS, thì: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo T và N phạm tội với mục đích thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt các bị cáo một khoản tiền nộp ngân sách nhà nước.
[6]. Về việc xử lý hành vi và đối tượng liên quan đến vụ án:
Đối với 214 giấy khám sức khỏe (09 giấy thu giữ khi bắt quả tang và 205 giấy do Công ty Đ7 giao nộp), 9 giấy khám sức khỏe của 4 trường hợp đặt mua T nhưng chưa lấy và chưa sử dụng, đối với 205 trường hợp giấy khám sức khỏe giả do N đặt T làm nhưng khi N sử dụng thông tin của người lao động để làm giấy khám sức khỏe giả thì N không nói cho người lao động biết. Những người lao động không biết, không trực tiếp đi làm tài liệu giả. Khi nộp tiền cho N thì N nói là hỗ trợ làm hồ sơ xin việc nên không có căn cứ để xử lý đối với 214 trường hợp nêu trên.
Đối với 182 trường hợp có thông tin đặt làm giấy khám sức khỏe giả để vào làm việc tại công ty Đ7 theo lời khai của T với N nhưng không thu giữ được giấy khám sức khỏe. Quá trình điều tra xác định do Nguyễn Thị Hồng N làm để cho vào hồ sơ xin việc, N không nói cho những người này biết về việc lấy thông tin để làm giấy khám sức khỏe giả nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý. Những trường hợp có thông tin đặt mua giấy khám sức khỏe giả của Vũ Văn T nhưng Cơ quan điều tra không thu được giấy khám sức khỏe giả nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với người đã bán phôi giấy khám sức khỏe giả cho T qua mạng xã hội Facebook, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
[7].Về vật chứng của vụ án gồm:
- Đối với 214 giấy khám sức khoẻ giả được thu lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu hồng, 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung 52Xmax, 01 bàn phím màu đen nhãn hiệu Fulhen, 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung, 01 màn máy in nhãn hiệu Canon Pixma thu giữ của Vũ Văn T. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, thu giữ của Nguyễn Thị Hồng N là phương tiện dụng cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 02 nắp nhựa màu hồng, 01 nắp nhựa màu trắng, 02 chiếc bút mực nước có vỏ bằng nhựa màu trắng, 01 chiếc bút bi nhãn hiệu TL, mực màu xanh không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Về số tiền thu lời bất chính: Buộc bị cáo T nộp số tiền 32.000.000 đồng; bị cáo N nộp số 6.000.000 đồng thu lời bất chính xung công quỹ nhà nước.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.
[9]. Về Quyền kháng cáo: Các bị cáo người có quyền lợi nghãi vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn T, Nguyễn Thị Hồng N phạm tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
1. Áp dụng: Điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS năm 2015.
Xử phạt: Vũ Văn T, Nguyễn Thị Hồng N mỗi bị cáo 36 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Vũ Văn T 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng; Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung quỹ nhà nước.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Thu lưu giữ trong hồ sơ vụ án 214 giấy khám sức khoẻ giả.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu hồng thu của Vũ Văn T; 01 cây máy tính nhãn hiệu Samsung 52Xmax, đã qua sử dụng; 01 bàn phím màu đen nhãn hiệu Fulhen đã qua sử dụng; 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng; 01 màn máy in nhãn hiệu Canon Pixma đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, thu giữ của Nguyễn Thị Hồng N.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 02 nắp nhựa màu hồng, 01 nắp nhựa màu trắng, 02 chiếc bút mực nước có vỏ bằng nhựa màu trắng, 01 chiếc bút bi nhãn hiệu TL, mực màu xanh.
- - Buộc bị cáo Vũ Văn T nộp số tiền 32.000.000 (Ba mươi hai triệu) đồng thu lời bất chính sung công quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng bị cáo nộp trong giai đoạn điều tra, còn phải nộp tiếp 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng N nộp số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng thu lời bất chính sung công quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng bị cáo nộp trong giai đoạn điều tra, số tiền còn lại 4.000.000 (Bốn triệu) đồng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo N.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án huyện Đại Từ).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 về việc thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Văn T và Nguyễn Thị Hồng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Duyên |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 36 tháng tù
