Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LỘC

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST

Ngày 16 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tô Thị Lợi;

Ông Nguyễn Hoàng Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lộc Thị Mận - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS, ngày 13 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2025 và Thông báo chuyển ngày xét xử số 865/TB-TA ngày 15 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1989, tại xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Hoàng Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án, cụ thể: Tại Bản án số 37/HSST ngày 21/02/2012 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn T 04 năm 06 tháng tù về tội “Lưu hành tiền giả”, ngày 15/12/2015 chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành xong khoản án phí và tiền phạt của bản án (chưa được xoá); tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 03/2008/HSST ngày 11/01/2008 của Toà án nhân dân huyện Cao Lộc xử phạt Nguyễn Văn T 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điểu khiển phương tiện giao thông đường bộ”, ngày 14/5/2010 chấp hành xong hình phạt tù, tháng 8/2008 đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, tháng 11/2008 đã chấp hành xong các khoản bồi thường, cấp dưỡng (đã được xoá án tích); tại Bản án số 21/2011/HSST ngày 01/4/2011 của Toà án nhân dân huyện Văn Lãng xử phạt Nguyễn Văn T 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”, ngày 14/10/2011 chấp hành xong hình phạt tù, tháng 05/2011 đã nộp án phí hình sự sơ thẩm (đã được xoá án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024, tạm giam từ ngày 23/12/2024 tại Phân trại tạm giam Khu vực huyện C cho đến nay, có mặt.

2. Hà Văn Q, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1992, tại xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 09/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H (đã chết) và bà Hà Thị H1; vợ là Phương Thị H2 (đã ly hôn); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024, tạm giam từ ngày 23/12/2024 tại Phân trại tạm giam Khu vực huyện C cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lương Xuân C1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ, ngày 17/12/2024, Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế H4 chủ trì, phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện C đang làm nhiệm vụ tại tổ C, khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện 02 (hai) đối tượng nam giới có nhiều biểu hiện nghi vấn đang mua bán trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã yêu cầu các đối tượng đứng tại chỗ để kiểm tra, nhưng cả hai đối tượng cùng bỏ chạy, quá trình bỏ chạy Q đã vứt lại 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng (có dòng kẻ ô ly) xuống đường, hai đối tượng chạy được khoảng 10 (mười) mét thì bị Tổ công tác truy đuổi, bắt giữ. Qua kiểm tra, Nguyễn Văn T và Hà Văn Q cùng khai nhận chất bột màu trắng bên trong 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng (có dòng kẻ ô ly) mà Q vứt xuống đường khi bỏ chạy là chất ma túy Heroine mà Nguyễn Văn T vừa bán cho Hà Văn Q với giá 200.000 đồng.

Nguyễn Văn T khai, bản thân sử dụng chất ma tuý Heroine từ năm 2021 cho đến khi bị bắt. Để có tiền sử dụng ma túy, khoảng đầu tháng 12 năm 2024 Nguyễn Văn T nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán lại kiếm lời, Nguyễn Văn T thường đến khu vực ngã ba đổi tiền thuộc khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn tìm gặp một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) để hỏi mua ma túy Heroine. Khoảng 10 giờ ngày 17/12/2024, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà ra khu vực Ngã 3 đổi tiền, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua 500.000 đồng ma tuý Heroine. Người đàn ông này đồng ý và đưa cho Nguyễn Văn T 01 (một) gói giấy bạc thuốc lá, bên trong đựng ma tuý Heroine. Sau khi mua được ma tuý, Nguyễn Văn T đem về nhà và nghiền nát số ma tuý mới mua được rồi chia thành 07 gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Nguyễn Văn T đã sử dụng 02 gói ma túy. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Hà Văn Q gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T đặt vấn đề mua 02 gói ma túy Heroine với số tiền 200.000 đồng. Nguyễn Văn T đồng ý, rồi cả hai người hẹn giao hàng tại khu vực ngõ vào nhà nghỉ H5, thuộc tổ C, khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Sau đó Hà Văn Q đi xe mô tô biển kiểm soát 12K4 – 4922 đi từ xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến điểm hẹn trên gặp Nguyễn Văn T. Tại đây Hà Văn Q đưa cho Nguyễn Văn T 500.000 đồng, Nguyễn Văn T trả lại Hà Văn Q 300.000 đồng, sau đó Nguyễn Văn T đưa cho Hà Văn Q 01 gói giấy chứa 02 gói ma túy Heroine, khi Nguyễn Văn T vừa nhận xong thì bị Tổ công tác phát hiện. Do lo sợ, Nguyễn Văn T và Hà Văn Q bỏ chạy, khi bỏ chạy, Hà Văn Q đã vứt 02 (hai) gói ma tuý xuống đất, Nguyễn Văn T và Hà Văn Q chạy được khoảng 10 mét thì bị Tổ Công tác bắt giữ rồi yêu cầu Q tự cầm 02 gói ma túy lên và đưa T và Q về trụ sở lập biên bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T khai, đã bán ma túy cho Hà Văn Q 05 lần: Trong đó có 03 lần, mỗi lần 01 gói, với giá 100.000 đồng; lần thứ tư Nguyễn Văn T bán 02 gói, với giá 100.000 đồng/gói. 04 lần này Nguyễn Văn T không nhớ rõ thời gian bán ma túy cho Hà Văn Q, chỉ nhớ lần thứ năm là vào ngày 17/12/2024 bán cho Hà Văn Q 02 gói, với giá 200.000 đồng. Ngoài ra Nguyễn Văn T còn bán cho một người đàn ông tên H3 (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) 02 lần: Lần thứ nhất 01 (một) gói, với giá 100.000 đồng; Lần thứ hai: 02 gói, với giá 100.000 đồng, Nguyễn Văn T không nhớ thời gian cụ thể. Tổng số tiền T bán cho Q 5 lần với số tiền thu được là 700.000 đồng.

Vật chứng, tài sản thu giữ của Nguyễn Văn T gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Realme V60s, màu xanh, đã qua sử dụng gắn số điện thoại 0971.322.xxx; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Viettel, màu xanh nước biển, đã qua sử dụng, lắp 01 sim V1, số điện thoại 0349.310.xxx; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 (năm trăm nghìn) đồng số seri CZ21113579.

Vật chứng, tài sản thu giữ của Hà Văn Q gồm: 02 gói giấy nhỏ màu trắng (có dòng kẻ ô ly), bên trong mỗi gói giấy có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số máy: màu đen, đã qua sử dụng, lắp 01 sim vinaphone, số điện thoại 0911.837.xxx; 01 xe máy hiệu Sunlux, biển kiểm soát 12K4-4922, màu mận tím, tình trạng đã qua sử dụng, không rõ số khung, số máy, không rõ nơi sản xuất, ngày sản xuất; 01 giấy đăng kí xe mô tô mang lên Lương Xuân C1; 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền Việt Nam.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Văn T, vật chứng phát hiện, thu giữ: 03 gói giấy có dòng kẻ ô ly bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng; 01 chiếc giầy màu trắng.

Tại Bản kết luận giám định số: 17/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng có trong 03 (ba) gói giấy nhỏ có dòng kẻ ô ly gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,183 gam (đã trừ bì); chất bột màu trắng có trong 02 (hai) gói giấy nhỏ có dòng kẻ ô ly gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,122 gam (đã trừ bì).

Tại Kết luận giám định số 18/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam trong hai phong bì niêm phong gửi giám định đều là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-CL ngày 12/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Hà Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đã thực hiện như Cáo trạng truy tố. Bị cáo Hà Văn Q thừa nhận đã sử dụng điện thoại để liên hệ để mua ma tuý nhiều lần với bị cáo T để sử dụng. Đối với chiếc xe mô tô bị thu giữ, bị cáo mua không làm giấy mua bán, không đăng ký theo quy định và hiện đang là chủ sở hữu; bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận đã được 05 lần bán ma tuý cho bị cáo Hà Văn Q và thu lợi tổng số tiền bán ma tuý 05 lần bán được 700.000 đồng. Công bố lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, anh Lương Xuân C1 thừa nhận đã bán chiếc xe mô tô và hiện nay anh không phải là người trực tiếp quản lý, sở hữu và sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 12K4 – 4922.

Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng thêm Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T; áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Văn Q. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 năm đến 09 năm tù; xử phạt bị cáo Hà Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo T, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo Q từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ; về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy và vật chứng không có giá trị sử dụng, tịch thu tài sản dùng vào việc phạm tội; trả lại cho các bị cáo các tài sản không sử dụng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo Nguyễn Văn T, tịch thu số tiền 700.000 đồng do bán ma tuý mà có. Ngoài ra, các bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin mức hình phạt nhẹ để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện C trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lương Xuân C1. Xét thấy việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.

[3] Xét lời khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ đồ vật và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, do đó, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn T đã bán ma túy Heroine cho Hà Văn Q 05 lần, thu lợi 700.000 đồng. Hà Văn Q mua 0,122 gam ma túy Heroine của Nguyễn Văn T mục đích để sử dụng cho bản thân, chưa sử dụng thì bị bắt quả tang. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hà Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có căn cứ ngoại phạm đối với các bị cáo.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, ý kiến của các bị cáo về các vấn đề phải giải quyết trong vụ án cũng như về hình phạt, Hội đồng xét xử, thấy rằng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và thực hiện hành vi nghiêm trọng và rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm quan hệ pháp luật được luật Hình sự bảo vệ, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, do đó phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Để phân hoá và cá thể hoá hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:

[5] Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hà Văn Q phạm tội độc lập và không có đồng phạm; bị cáo Nguyễn Văn T tự bỏ tiền trực tiếp đi mua ma tuý về vừa dùng vừa để bán lại kiếm lời, bị cáo Hà Văn Q mua ma tuý với bị cáo Nguyễn Văn T 05 lần để sử dụng cho bản thân, như vậy hành vi của các bị cáo là độc lập. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Nguyễn Văn T có 01 tình tiết tăng nặng, theo Bản án số 37/HSST ngày 21/02/2012 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn T 04 năm 06 tháng tù giam về tội “Lưu hành tiền giả”, ngày 15/12/2015 đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành xong khoản án phí và tiền phạt của bản án nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hà Văn Q ngoài các tình tiết định khung không có tình tiết tăng nặng nào khác; về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; về tiền án: Bị cáo Hà Văn Q không có tiền án, tiền sự; về nhân thân: Bị cáo Hà Văn Q là người nghiện ma tuý, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu đã bị Toà án xử phạt và được xoá án tích như lý lịch nêu. Trên cơ sở các đánh giá này, Hội đồng xét xử chấp nhận cơ bản đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn T không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, công việc thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét miễn áp dụng; đối với bị cáo Hà Văn Q có cơ sở để áp dụng và có điều kiện để áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức tối thiểu cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng không có giá trị sử dụng; đối với tài sản là các điện thoại dùng vào việc phạm tội cần tịch thu hoá giá sung vào ngân sách Nhà nước; tài sản không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án; tịch thu số tiền 700.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Văn T là tiền có được do mua bán trái phép chất ma tuý. Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T, qua điều tra và tại phiên toà xác định được trong số tiền này có 300.000 đồng là tiền không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T tại khu vực ngã ba khu D, thị trấn Đ, huyện C và người đàn ông tên H3 là người mua ma túy của Nguyễn Văn T. Do Nguyễn Văn T không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xác minh làm rõ.

[9] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sunlux màu nâu, cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12K4 - 4922, không rõ số khung, số máy tạm giữ của Hà Văn Q. Hà Văn Q khai nhận đây là xe mô tô của Hà Văn Q mua của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) và không nhớ rõ thời gian đã mua. Qua xác minh xác định chủ xe mô tô là anh Lương Xuân C1. Nhưng chiếc xe trên đã được anh Lương Xuân C1 bán qua nhiều lần, hiện nay do bị cáo Hà Văn Q là người quản lý và sở hữu nhưng không làm thủ tục đăng ký theo quy định. Tại phiên toà, xác định bị cáo Hà Văn Q không sử dụng phương tiện để tàng trữ trái phép chất ma tuý, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[10] Các bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[11] Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[12] Từ những nhận định trên, chấp nhận cơ bản những ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, những vấn đề trái với nhận định của Hội đồng xét xử thì không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T;

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Văn Q;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024.

2.2. Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024.

3. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn Q 5.000.000 (năm triệu) đồng.

4. Về xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì in được niêm phong theo quy định. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,154 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ); 01 (một) phong bì in được niêm phong theo quy định. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,105 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ); 01 (một) chiếc giày bên trái màu trắng, cũ, đã qua sử dụng.

4.2. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme V60s, màu xanh, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 861552078317532/11; Số IMEI 2: 861552078317524/11, kèm theo 01 sim ở bên trong máy có số thuê bao 0971322501 của nhà mạng Viettel của bị cáo Nguyễn Văn T; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 359172077176042, kèm theo 01 sim ở bên trong máy có số thuê bao 0911837336 của nhà mạng Vinaphone của bị cáo Hà Văn Q;

4.3. Trả cho các bị cáo:

- Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu xanh nước biển, cũ đã qua sử dụng, có số IMEI 1: 351263407351427; Số IMEI 2: 351263407351435, kèm theo 01 sim ở bên trong máy có số thuê bao 0349310742 của nhà mạng V và số tiền 300.000 đồng, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- Trả cho bị cáo Hà Văn Q số tiền 300.000 đồng và 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Sunlux màu nâu, cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12K4 - 4922, có số khung bị tẩy xóa, qua giám định xác định được 12 (mười hai) ký tự số khung nguyên thủy gồm: DCB50 1002524, không có số máy kèm theo 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số 018563 mang tên chủ xe Lương Xuân C1, địa chỉ: khu E, TTNT T, Đ; nhãn hiệu SUNLUX; biển số đăng ký 12K4-4922 ghi cấp ngày 08/12/2007 đựng trong 01 (một) phong bì dán kín in chữ Phòng K Công an tỉnh L ghi chữ “Niêm phong đăng ký môtô, xe máy số 018563 trong vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 17/12/2024 tại khu Ga, TT Đ, C, Lạng Sơn” có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh L. Nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

(Số tiền tạm giữ là 800.000 đồng, theo Uỷ nhiệm chi lập ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa đơn vị trả tiền: Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh L với đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn)

5. Áp dụng biện pháp tư pháp: Tuyên tịch thu từ bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 700.000 đồng (hiện thu giữ 200.000 đồng nằm trong giấy Uỷ nhiệm chi, còn thu tiếp của bị cáo Nguyễn Văn T 500.000 đồng).

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh L và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C ngày 12/3/2025)

6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Hà Văn Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

7. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
  • - PC11-Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA

Nguyễn Văn Bẩy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 42/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN T VÀ ĐP - MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY, TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger