TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số:42/2025/HNGĐ-ST Ngày 04-04-2025 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạn
2. Bà Trần Thị Liên
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quỳnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu về việc giải quyết vụ án: Ông Phạm Việt Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 04/04/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ĐắkLắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:902/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2025/QĐXX-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2025/QÐST-HNGĐ ngày 17/03/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm: 1983(Có mặt)
Địa chỉ: Tổ L, tổ dân phố F, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
- Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1981(Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ L, tổ dân phố F, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1].Theo đơn ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Bùi Thị N trình bày:
Tôi và ông Lê Văn T tự nguyện chung sống với nhau năm 2005, vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 11/3/2005 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
Quá trình sống chung tôi và ông Lê Văn T có 02 con chung là các cháu Lê Văn L, sinh ngày: 06/7/2005 và Lê Gia B, sinh ngày: 10/01/2016.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông Lê Văn T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất hòa dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lê Văn T.
Về con chung: Tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Gia B, sinh ngày: 10/01/2016 đến tuổi thành niên, đối với cháu Lê Văn L, sinh ngày 06/7/2005 đã thành niên nên ở với ai là quyền của cháu.
-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
-Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi không có tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Hiện nay công việc của tôi làm nghề kinh doanh, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng.
2].Đối với bị đơn ông Lê Văn T: Tòa án đã tiến hành thông báo triệu tập hợp lệ nhưng ông Lê Văn T không lên Tòa án làm việc nên không lấy được lời khai.
-Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật còn bị đơn chưa chấp hành đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Bùi Thị N và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Cho bà Bùi Thị N được ly hôn với ông Lê Văn T.
-Về con chung: Bà Bùi Thị N và ông Lê Văn T có 02 con chung là cháu Lê Văn L, sinh ngày: 06/7/2005 và cháu Lê Gia B, sinh ngày: 10/01/2016.
Giao cháu Lê Gia B, sinh ngày: 10/01/2016 cho bà Bùi Thị N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi thành niên
Đối với cháu Lê Văn L, sinh ngày: 06/7/2005 đã đủ tuổi thành niên nên không đề cập giải quyết
-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Bùi Thị N và ông Lê Văn T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
-Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị N và ông Lê Văn T không yêu cầu nên không xem xét.
-Về án phí ly hôn sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn bà Bùi Thị N và bị đơn ông Lê Văn T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền Tòa án giải quyết.
Ông Lê Văn T hiện nay sinh sống tại Tổ L, tổ dân phố F, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông Lê Văn T không lên Tòa án làm việc không có lý do, không có ý kiến trình bày tiếp theo về các nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị N; không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đã phải hoãn phiên tòa lần đầu vào ngày 17 tháng 03 năm 2025. Tại phiên tòa hôm nay, ông T vẫn vắng mặt là thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định.
[2] Hôn nhân giữa bà Bùi Thị N và ông Lê Văn T là hợp pháp; trong thời gian chung sống, có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, không tin tưởng đến nhau nên sinh nghi ngờ dẫn đến cãi vã, hai bên đã hòa giải, hàn gắn nhưng không thành, tiếp tục mâu thuẫn, từ lâu cuộc sống vợ chồng không còn ai quan tâm chăm sóc đến nhau. Như vậy, giữa bà Bùi Thị N và ông Lê Văn T không còn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Từ đó vợ chồng bà Bùi Thị N và ông Lê Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đây là căn cứ cho ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Bà Bùi Thị N và ông Lê Văn T có 02 con chung là: cháu Lê Văn L, sinh ngày: 06/7/2005 và cháu Lê Gia B, sinh ngày: 10/01/2016.
Xét nguyện vọng của bà N là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung đến khi thành niên và xét nguyện vọng của cháu Lê Gia B, sinh ngày: 10/01/2016 là được muốn ở với bà N. Xét nguyện vọng của bà N và xét nguyện vọng của cháu Lê Gia B là chính đáng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận nên cần giao cháu Lê Gia B, sinh ngày: 10/01/2016 cho bà Bùi Thị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên(18 tuổi) là phù hợp. Đối với cháu cháu Lê Văn L, sinh ngày: 06/7/2005 đã đủ tuổi thành niên nên không xem xét.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
[6]. Về án phí bà N là người yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khỏan 1 Điều 39; Điều 146; điểm a khoản 1 Điều 203; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Bùi Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị N được ly hôn với ông Lê Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Lê Gia B, sinh ngày: 10/01/2016 cho bà Bùi Thị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi thành niên(18 tuổi).
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà N đã nộp tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm theo biên lai thu số 0012737 ngày 13/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột. Ông Lê Văn T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Đối với cháu Lê Văn L, sinh ngày: 06/7/2005 đã đủ tuổi thành niên nên không đề cập giải quyết.
Ông Lê Văn T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
-Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Bùi Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Vĩ |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Bùi Thị Nga xin ly hôn với ông Lê Văn Thắng
