|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hứa Thanh Hải.
Ông Phan Hồng Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Như Á, sinh năm 1992; nơi thường trú: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Cường T, sinh năm 1984; nơi thường trú: Số I, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 11 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Như Á trình bày:
Bà Huỳnh Thị Như Á và ông Nguyễn Cường T tự nguyện tìm hiểu và sống chung từ tháng 6/2020 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
Bà Á và ông T cùng sống chung tại địa chỉ số I, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu chung sống, bà Á và ông T sống rất hạnh phúc tuy nhiên sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là
do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp nhau, diễn ra trong thường xuyên và tái diễn trong một khoảng thời gian dài từ đó ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân, đỉnh điểm là ngày 29/10/2024, ông T đánh bà Á giữa đường, gây thương tích (chảy máu mũi, bầm mặt) cho bà Á, bà Á và ông T ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Á khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Á và ông T có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2020. Khi ly hôn bà Á yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Á không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho bị đơn do bị đơn thường xuyên vắng nhà. Theo kết quả xác minh tại Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương: Ông T có đăng ký tạm trú tại số I, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi thường trú của ông T và cam đoan giao lại cho ông T nhưng ông T không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Á và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Bà Á có yêu cầu giải quyết vắng mặt, tuy nhiên bà vẫn giữ nguyên yêu cầu như đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Á và ông T chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà Á và ông T là không hợp pháp. Trong quá trình chung sống, cả hai thường xuyên xảy ra cãi vả do bất đồng quan điểm, không còn tình cảm với nhau nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Á và ông T.
Về con chung:
Về thời gian chăm sóc con: Bà Á làm việc với thời gian tự do nên có thời gian chăm sóc cho cháu M nhiều hơn ông T.
Về điều kiện vật chất: Bà Á có công việc ổn định với mức thu nhập từ 25.000.000 đồng/tháng nên bà Á đủ điều kiện về mặt vật chất để chăm lo, nuôi dưỡng cháu M.
Về chỗ ở: Bà Á hiện đang sinh sống ổn định và lâu dài tại địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên bà Á sẽ đủ điều kiện cho cháu M có chỗ ở ổn định cho sự phát triển của cháu M.
Ngoài ra, trong quá trình ly hôn, ông T không hợp tác và có thiện chí nuôi dưỡng, chu cấp cho cháu M.
Xét thấy về mọi mặt bà Huỳnh Thị Như Á đều có đủ điều kiện về mặt vật chất và tinh thần để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M, cùng với đó cháu M từ nhỏ đã sống với bà Á, đều một tay bà Á chăm sóc nên việc để bà Á nuôi dưỡng cháu M sẽ tạo điều kiện cho cháu M được phát triển đầy đủ hơn so với khi ở với ông T.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Á và ông T; về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2020 cho bà Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Á về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nhận định:
[2] Về tố tụng:
[2.1] Bà Á khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông T; ông T có nơi thường trú tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng vẫn vắng mặt, cố tình không đến Tòa án làm việc là chưa thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Á và ông T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2020 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Bà Á xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về sống đoàn tụ
hạnh phúc, ngoài ra bà Á và ông T sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau. Toà án đã động viên bà Á tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng bà Á xác định không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3.2] Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó, theo quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Á và ông T.
[4] Về con chung: Bà Á và ông T có một người con chung Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2020. Tại phiên toà bà Á vẫn giữ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu M hiện đang sống chung với bà Á, cần được sự quan tâm, chăm sóc và giáo dục từ mẹ, mặt khác bà Á có công việc ổn định. Ngoài ra, để đảm bảo sự phát triển cũng như quyền lợi về mọi mặt của con nên cần giao cháu M cho bà Á tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị Như Á không yêu cầu ông Nguyễn Cường T cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Ý kiến trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.
[8] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Như Á đối với bị đơn ông Nguyễn Cường T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà
Huỳnh Thị Như Á và ông Nguyễn Cường T.
- - Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2020 cho bà Huỳnh Thị Như Á được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- - Về cấp dưỡng: Bà Huỳnh Thị Như Á không yêu cầu ông Nguyễn Cường T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Như Á phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009664 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HUỲNH THỊ NHƯ A- NGUYỄN CƯỜNG T
