TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày 26-02-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nam Tuấn
Bà Nguyễn Thị Hồng Thuý
Thư ký phiên toà:
Bà Trần Thị Thu Huệ – Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà:
Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 359/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 55/TB-TA ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn F, xã C, huyện T (nay là xã Q, thành phố T), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Trịnh Thị N, sinh năm 1994, nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: Thôn F, xã C, huyện T (nay là xã Q, thành phố T), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn xin ly hôn ngày 11/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Hoàng Văn Q trình bày:
Anh Hoàng Văn Q và chị Trịnh Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T (nay là xã Q, thành phố T), thành phố Hải Phòng vào ngày 18/12/2019. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không hạnh phúc. Từ đầu năm 2022 đến nay, chị N đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, không liên lạc với anh Q, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm, trách nhiệm đến nhau. Nay xác định tình cảm không còn nên anh Q yêu cầu ly hôn chị N.
Về con chung: Anh Q và chị N có 01 con chung là Hoàng Thiện N1, sinh ngày 10/9/2019. Anh Q yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Trịnh Thị N: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo, niêm yết đầy đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu bà Trần Thị D là mẹ của chị Trịnh Thị N cung cấp địa chỉ của chị N. Tại Đơn trình bày ngày 25/12/2024, bà D trình bày: Từ tháng 02/2023, chị N sang Hàn Quốc làm kinh tế. Bà D vẫn liên lạc qua mạng xã hội với chị N nhưng không biết địa chỉ cụ thể của chị N ở đâu. Bà D đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Toà án thay cho chị N và có trách nhiệm thông báo cho chị N biết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể: Vắng mặt tại tất cả các lần Tòa án triệu tập, không lý do.
Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn cư trú tại thành phố Hải Phòng. Tại Công văn số 4986/PA08(Đ1) ngày 31/12/2024 về việc trả lời thông tin XNC của Phòng Q1 - Công an thành phố H cung cấp: Ngày 14/02/2023 chị N xuất cảnh qua cửa khẩu Sân bay quốc tế C, đến nay chưa có thông tin nhập cảnh trở lại. Như vậy, xác định bị đơn đang cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Mẹ của bị đơn xác nhận vẫn liên lạc được với bị đơn. Toà án đã yêu cầu mẹ của bị đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn đến lần thứ hai nhưng không cung cấp, được coi là cố tình giấu địa chỉ. Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung, theo Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
[3] Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt, không lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn Q và chị Trịnh Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Xét lời khai của anh Q phù hợp với lời khai của người làm chứng, thể hiện vợ chồng anh Q, chị N phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp. Từ đầu năm 2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn liên lạc, quan tâm trách nhiệm đến nhau, không còn tình cảm vợ chồng. Xét hôn nhân của anh Q và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q.
[5] Về con chung: Anh Q và chị N có một con chung là Hoàng Thiện N1, sinh ngày 10/9/2019. Hiện cháu N1 đang do anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét chị N đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, giáo dục con. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh Q. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Q không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[6] Về tài sản chung: Anh Q không yêu cầu giải quyết, chị N không có quan điểm, nên không xét.
[7] Về án phí: Anh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, khoản 1 Điều 238, các điều 273, 469, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Văn Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn Q được ly hôn chị Trịnh Thị N.
- Về con chung: Giao con chung Hoàng Thiện N1, sinh ngày 10/9/2019 cho anh Hoàng Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí: Anh Hoàng Văn Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) anh Q đã nộp, theo Biên lai số 0000960 ngày 19/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo:
Anh Hoàng Văn Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Chị Trịnh Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Bích Thuỷ |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
