TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/DS-PT
Ngày 26 - 3 - 2025
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Bà Bùi Thị Đoan Trang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 191/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc: “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số bản án sơ thẩm số 11/2024/DSST ngày 11 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 65/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim O, sinh năm 1958; trú tại: Số nhà C đường M, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng; tạm trú: Khu A, thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
- Bà Đặng Thị Như Q, sinh năm 1993, có mặt
- Ông Hoàng Kim N, sinh năm 1994, có mặt
- Bị đơn: Ông Vũ Văn L, sinh năm 1973; trú tại: Khu A, thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ông Vũ Như T2, sinh năm 1953, vắng mặt.
- Anh Vũ Văn C, sinh năm 1985, vắng mặt.
- Chị Vũ Thị Mai A, sinh năm 1986, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976, vắng mặt.
- Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1997, vắng mặt.
- Anh Vũ Mạnh S, sinh năm 2000, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
Địa chỉ: Số nhà A, đường C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Văn bản ủy quyền ngày 22/3/2025).
Địa chỉ: Văn phòng L2 Vĩnh Phúc, số C, đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Văn bản ủy quyền ngày 24/3/2025).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh T, chủ tịch ủy ban nhân dân huyện L, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Mạnh T1, Phó trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện L, vắng mặt. (Văn bản ủy quyền ngày 07/02/2025)
Đều trú tại: Tổ B, Phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Vũ Văn L, sinh năm 1973,vắng mặt. (Văn bản ủy quyền ngày 14/3/2025)
Đều trú tại: Khu A, thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người kháng cáo: Bà Bùi Thị Kim O – Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 5 năm 2022 cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn bà O trình bày:
Năm 1983 bà O kết hôn với ông Vũ Như T2, đến năm 1985 bố mẹ chồng bà O cho vợ chồng bà ra ở riêng trên đất được nhà nước giao. Năm 1986, bà là xã viên hợp tác xã N6, xã B, nhà bà liền kề với rừng, do đó để tiện trông coi và chăm sóc nên Hợp tác xã giao đất rừng cho các nhóm hộ có đất ở liền kề với rừng, sau đó các nhóm hộ lại phân cho từng hộ gia đình cụ thể, trong đó có gia đình bà được Hợp tác xã giao đất rừng diện tích là 4.259m² tại khu D, thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nay là đồi Đình Kham. Khi bà được giao rừng thì chồng bà là ông T2 vẫn đang làm việc trong quân đội, hai con của bà khi đó còn nhỏ (gồm anh C khi đó mới khoảng 2 tuổi, chị Mai A mới được vài tháng). Khi giao không có quyết định hay văn bản giao đất rừng, Hợp tác xã ra giao trên thực địa và chỉ mốc giới thực tế cho nhóm hộ gia đình. Khi giao có ông Trịnh Tiến T3 - là phó chủ nhiệm Hợp tác xã, cùng ông Lê Huy N1 (đã chết) và ông Vũ Văn T4 (đã chết) là tổ trưởng cùng đến thực địa giao đất rừng cho nhóm hộ của bà. Việc giao đất rừng để gia đình bà trông nom, chăm sóc rừng, lợi ích được hưởng 20% giá trị và 02 cây (bất kì) khi Hợp tác xã thu hoạch. Khoảng năm 1994-1996, Hợp tác xã thu hoạch có trả thành quả cho các hộ là 20% giá trị và 02 cây nhưng bà không nhận, các hộ nhận đất rừng như bà cũng đều không nhận vì khi không nhận công trông nom sẽ tiếp tục được giao trông nom và chăm sóc rừng, các hộ được giao đất rừng gồm có ông Vũ Văn T4 (đã chết), ông Ngô Văn N2, ông Ngô Văn H2, bà Lê Thị C1, ông Vũ Văn C2, ông Phan Văn H3, ông Mai Văn Q1, ông Đồng Xuân N3, ông Đồng Xuân U, ông Bùi Việt D và ông Vũ Văn D1. Sau khi được Hợp tác xã giao trông nom, chăm sóc thì đến năm 1993 bà vào thành phố Đà Nẵng sinh sống từ đó đến nay, trước khi đi bà nhờ bố mẹ chồng là cụ Vũ Như D2 và cụ Nguyễn Thị C3 (đều đã chết) trông coi và chăm sóc rừng. Bà ở Đà Nẵng nhưng vẫn thường xuyên nắm bắt thông tin. Năm 2004 có chị Vũ Thị L1, sinh năm 1987; trú tại: Khu C, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc là cháu ông L vào Đà Nẵng chơi nên ông L đã gửi chị L1 cho bà 2.000.000 đồng nói là tiền thu hoạch cây chồi ở rừng cây mà gia đình bà được giao. Sở dĩ khoảng năm 1994-1996, khi hợp tác xã thu hoạch rừng và tiếp tục giao lại cho bà trông nom, chăm sóc rừng là vì công trông nom, chăm sóc gia đình bà và các gia đình khác đều không nhận nên vẫn được tiếp tục giao trông nom, chăm sóc rừng, khi đó bố mẹ chồng bà vẫn đang được bà nhờ trông nom, chăm sóc phần rừng mà gia đình bà được giao. Năm 2021, khi bà về để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thổ cư thì mới biết đất rừng của gia đình bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L và bà Nguyễn Thị H. Sau đó bà có làm đơn và được U1 nhiều lần không thành.
Nay bà đề nghị Tòa án buộc ông L, bà P phải trả lại thửa đất số 15 tờ bản đồ số 15 nêu trên cho bà và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00259 ngày 29/10/2013 do UBND huyện L cấp cho hộ ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ 15, diện tích 4259,9m² tại địa chỉ Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị đơn ông Vũ Văn L (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà H, anh H1, anh S) trình bày: Đối với thửa đất số 15 tờ bản đồ số 15 tại đồi khu D, thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/10/2013 đứng tên hộ ông Vũ Văn L là thửa đất gia đình ông được ông Lê Văn N4 (đã chết) là trưởng nhóm trông nom rừng giao cho gia đình ông trôm nom vào khoảng năm 1994-1995, khi ông N4 giao thì có nói là bà O đi vào Đà Nẵng sinh sống không trông nom rừng được nữa nên giao cho gia đình ông trông coi rừng. Gia đình ông đã quản lý, trông nom rừng từ đó cho đến nay và năm 2013 gia đình ông có đủ điều kiện nên được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như nêu trên. Đối với số tiền 2.500.000 đồng ông đưa cho bà O năm 2002 là tiền trả cho việc mua lại cây và đất rừng nêu trên, vì tại thời điểm đó các hộ gia đình cũng bán như vậy. Số tiền trên ông không gửi chị Vũ Thị L1 vì khi đó chị L1 mới 15 tuổi mà ông đã gửi vào trong Đà Nẵng cho bà O vì đã lâu ông không nhớ bằng hình thức nào.
Nay bà O khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông L, bà P phải trả lại thửa đất số 15 tờ bản đồ số 15 nêu trên cho bà và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00259 ngày 29/10/2013 do UBND huyện L cấp cho hộ ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ 15, diện tích 4259,9m2 tại địa chỉ Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc ông không đồng ý vì thửa đất trên ông đã quản lý, sử dụng và đủ điều kiện được Nhà nước giao đất nên ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Như T2, anh Vũ Văn C, chị Vũ Thị Mai A, đã được Tòa án sơ thẩm triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt do vậy Tòa án không lấy được lời khai của ông T2, anh C, chị Mai A. Tại cấp phúc thẩm ông Vũ Như T2, anh Vũ Văn C, chị Vũ Thị Mai A có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện L ông Dương Mạnh T1 vắng mặt tại phiên tòa và tại bản tự khai ông T1 trình bày: Năm 2013, thực hiện chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất lâm nghiệp của Nhà nước. Tại khu vực Đ, xã B, huyện L, hộ ông Vũ Văn L thời điểm đó đang là hộ trực tiếp trông coi, chăm sóc và trồng rừng đối với diện tích đất rừng nêu trên, đang có hộ khẩu tại địa phương và đã đứng ra kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi thẩm định hồ sơ, thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật, nhận thấy hộ ông L đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất rừng như nêu trên vì vậy Ủy ban nhân dân huyện L đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 00259 ngày 29/10/2013 do UBND huyện L cấp cho hộ ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ 15, diện tích 4259,9m2 tại địa chỉ Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Vũ Văn L được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Nay bà Bùi Thị Kim O khởi kiện quan điểm của Ủy ban nhân dân huyện L đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Với nội dung vụ án như trên, tại bản án sơ thẩm số 11/2024/DSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kim O về việc yêu cầu ông Vũ Văn L trả lại diện tích đất rừng 4.259,9m² đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ 15, địa chỉ thửa đất đồi Đình Kham, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về chi phí tố tụng: Bà Bùi Thị Kim O phải chịu 10.747.196đ chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận bà O đã nộp đủ số tiền trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà O, ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; 147; 157; Điều 227; Điều 228; khoản 4 Điều 91, Điều 93 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 101 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 2 Luật người cao tuổi.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/9/2024 nguyên đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện và thay đổi nội dung đơn kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Toà án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về phía các đương sự đã chấp hành đúng nhiệm vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim O, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim O được làm trong hạn luật định, được chấp nhận xem xét.
[2.] Xét nội dung kháng cáo của bà Bùi Thị Kim O đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho nguyên đơn thửa đất số 15 tờ bản đồ số 15 diện tích 4259,9m² tại địa chỉ đồi Đình Kham, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00259 ngày 29/10/2013 do UBND huyện L cấp cho hộ ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất trên.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp: Theo lời khai nguyên đơn, bị đơn và những người làm chứng cũng như xác minh tại Ủy ban nhân dân xã B xác định: Năm 1986, Hợp tác xã N6, xã B có chủ trương giao đất rừng cho các hộ dân trông nom, chăm sóc tại khu Đ. Hợp tác xã giao cho tổ trưởng tổ chăm sóc rừng là ông Lê Huy N1, sau đó tổ trưởng giao lại cho các hộ dân. Việc bàn giao này không có hồ sơ sổ sách gì. Ủy ban xã cũng chỉ nghe nói là năm 1986 bà O có được giao trông nom, chăm sóc rừng nhưng đến năm 1993 bà O cùng hai con vào Đà Nẵng sinh sống với chồng từ đó cho đến nay. Năm 1995-1996 khai thác rừng, sau khi khai thức rừng các hộ vẫn tiếp tục trông nom, chăm sóc mầm trồi từ các gốc cây bạch đàn đã bị chặt, hộ bà O đã vào Đà Nẵng sinh sống nên diện tích đất rừng đó không có ai trông nom chăm sóc. Theo quy định đất rừng không có người trông nom, chăm sóc sẽ bị thu hồi để giao cho hộ dân đủ điều kiện trông nom, chăm sóc. Trên thực tế thì hộ ông L đã được giao trông nom, chăm sóc phần diện tích đất rừng đó từ những năm 1994-1995 do đó hộ ông L đã được tổ trưởng tổ trông nom, chăm sóc rừng giao tiếp tục trông nom chăm sóc mầm trồi và tự thu hoạch. Năm 2013, thực hiện chủ trương của nhà nước về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất đồi rừng chưa được cấp giấy chứng nhận, điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng phải là các hộ đang trực tiếp trông nom chăm sóc, canh tác và trồng rừng trên diện tích đất rừng đó và phải có hộ khẩu tại địa phương. Tại thời điểm kê khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ bà O không còn hộ khẩu tại địa phương, không có mặt tại địa phương, không trực tiếp canh tác, sản xuất, trông nom diện tích đất rừng này mà hộ ông L có đủ các điều kiện nên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Tại Hồ sơ giao đất lâm nghiệp năm 2000 thể hiện tên chủ hộ được giao là ông Lê Huy N1, diện tích được giao 3,0ha, có biên bản giao nhận đất giữa ông N1 và Hợp tác xã, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc bà O được giao đất lâm nghiệp.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà O xuất trình sổ hộ khẩu phô tô xác định năm 2001 bà có khẩu tại quê. Hội đồng xét xử yêu cầu bà nộp bản gốc hoặc bản sao có công chứng nhưng bà không cung cấp được. Do đó, sổ hộ khẩu phô tô không có giá trị chứng minh. Mặt khác quá trình giải quyết, cấp sơ thẩm đã xác minh tại địa phương xác định bà O vào Đà Nẵng từ 1993 và khi khởi kiện bà O nộp sổ hộ khẩu gia đình tên chủ hộ ông Vũ Như T2, địa chỉ Tổ B, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng (có công chứng) thể hiện bà O cùng các con đã chuyển khẩu vào Đà Nẵng sống cùng chồng là ông C từ năm 2002. Bà O cho rằng: trước khi đi vào Đà Nẵng bà có nhờ bố mẹ chồng và bà N5 là em dâu trông nom, chăm sóc phần diện tích đất rừng này nhưng bà O không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Cấp sơ thẩm lấy lời khai cụ Vũ Như D2 (bố chồng) và bà N5 (em dâu) bà O đều trình bày: bà O vào Đà Nẵng sinh sống không nhờ vợ chồng cụ D2 và bà N5 trông nom, chăm sóc rừng. Các hộ được giao trông nom, chăm sóc rừng cùng thời điểm với bà O năm 1986 cũng xác nhận năm 1986 bà O có được giao trông nom, chăm sóc rừng, đến năm 1993 bà O cùng các con vào Đà Nẵng sinh sống từ đó cho đến nay. Khi đi bà O có nhờ ai trông nom, chăm sóc trồng rừng không thì các hộ này cũng không nắm được. Như vậy, xác định bà O không trực tiếp trông nom chăm sóc, canh tác và trồng rừng từ năm 1993.
Tại Hồ sơ giao đất lâm nghiệp năm 2000 thể hiện tên chủ hộ được giao là ông Lê Huy N1, diện tích được giao 3,0ha, có biên bản giao nhận đất giữa ông N1 và Hợp tác xã, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc bà O được giao đất lâm nghiệp.
Như vậy nguồn gốc thửa đất số 15, tờ bản đồ số 15 là của nhà nước quản lý sau đó giao cho ông Lê Huy N1, ông N1 giao cho bà O trông nom, chăm sóc từ năm 1986. Đến năm 1993 bà O vào Đà Nẵng sinh sống, thửa đất trên không có ai trông nom chăm sóc, năm 1994-1995 ông N1 đã giao lại thửa đất trên cho ông L trông nom, chăm sóc từ đó cho đến nay.
Đối với số tiền 2.000.000đ, bà O cho rằng là tiền ông L trả công trông nom, chăm sóc, thu hoạch cây thời điểm bà vẫn còn ở địa phương, nhưng từ khi bà O vào Đà Nẵng sinh sống năm 1993 đến năm 2021 là 28 năm, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày 31/7/2024 cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bà O trình bày đã biết ông L là người trông nom, chăm sóc rừng từ sau khi bà O vào Đà Nẵng nhưng bà O không ý kiến gì vì nghĩ là chị em trong nhà để cho ông L trông nom chăm sóc rồi thu hoạch cây nhằm cải thiện cuộc sống cho gia đình ông L. Như vậy việc ông L là người trông nom, chăm sóc rừng bà O đã biết và bà O không ý kiến gì. Lời trình bày của ông L tại cấp sơ thẩm về số tiền 2.500.000đ ông L trả cho bà O là tiền do trước đó ông L và bà O đã thống nhất bà O để lại cho ông L diện tích đất rừng này và ông L phải thanh toán cho bà O 2.500.000₫ là phù hợp.
Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00259 ngày 29/10/2013 do UBND huyện L cấp ngày 29/10/2013 cho hộ ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất trên. Xét thấy: Năm 2013, nhà nước có chủ trương về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất đồi rừng chưa được cấp giấy chứng nhận, điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng phải là các hộ đang trực tiếp trông nom chăm sóc, canh tác và trồng rừng trên diện tích đất rừng đó và phải có hộ khẩu tại địa phương. Tại thời điểm kê khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ bà O không còn hộ khẩu tại địa phương, không có mặt tại địa phương, không trực tiếp canh tác, sản xuất, trông nom diện tích đất rừng. Hộ gia đình ông L đã được tổ trưởng tổ trông nom chăm sóc rừng giao tiếp tục trông nom chăm sóc mầm trồi trên phần diện tích đất rừng đó ngay tình, liên tục, công khai từ những năm 1994-1995 đến năm 2013 nên có quyền thực hiện đăng ký và kê khai quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, .... nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...” và Điều 101 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp... được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất...”.
Quá trình giải quyết, Ủy ban nhân dân huyện L xác định: Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Vũ Văn L là đúng theo quy định của pháp luật, đã được niêm yết công khai danh sách các hộ dân cũng như diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ những phân tích trên xác định Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00259 ngày 29/10/2013 cho hộ ông Vũ Văn L là đúng quy định pháp luật. Do đó cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O về việc buộc ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho bà O thửa đất số 15, tờ bản đồ số 15 diện tích 4.259,9m² tại địa chỉ đồi Đình Kham, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đã được UBND huyện L giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00259 ngày 29/10/2013 cho hộ ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H là có căn cứ. Điều này đồng nghĩa với việc kháng cáo của bà O không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định.
[4] Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm: Bà Bùi Thị Kim O phải chịu án phí, tuy nhiên bà O đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí nên được miễn tiền toàn bộ án phí;
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm nhân dân tỉnh V tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2024/DSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; 147; 157; Điều 227; Điều 228; khoản 4 Điều 91, Điều 93 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 101 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 2 Luật người cao tuổi.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Kim O về việc buộc ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho bà O 4.259,9m² đất rừng sản xuất tại thửa đất số 15, tờ bản đồ số 15, địa chỉ đồi Đình Kham, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00259 ngày 29/10/2013 ngày 29/10/2013 mang tên hộ ông Vũ Văn L, bà Nguyễn Thị H.
Về chi phí tố tụng: Bà Bùi Thị Kim O phải chịu 10.747.196đ (mười triệu, bảy trăm bốn bảy nghìn, một trăm chín sáu đồng) chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận bà Bùi Thị Kim O đã nộp đủ số tiền trên.
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bà Bùi Thị Kim O vì bà O là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Xuân Trọng | Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bùi Thị Đoan Trang |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- - TAND huyện Lập Thạch;
- - Chi cục THADS Lập Thạch;
- - Các đương sự;
- - Lưu: HS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Bản án số 42/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 42/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
