TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:42/2025/HNGĐ-ST
Ngày 21 - 3 - 2025
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
2. Ông Huỳnh Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long:
Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 501/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 – Có mặt
- Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1971 – Có mặt
- Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 16/10/2024 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Về hôn nhân:
Vào năm 1990 do mai mối ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Bé S tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 23/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian vợ chồng hạnh phúc khoảng 29 năm, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng nên không chung sống cho đến nay.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về các vấn đề trong cuộc sống, bà S không chăm lo cho gia đình từ đó làm cho tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên vợ chồng không chung sống từ năm 2019 cho đến nay không về đoàn tụ. Ông T yêu cầu ly hôn với bà S.
Về con chung:
Ông T và bà S trong thời gian chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Đức T1, sinh năm 1992 và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1995, hiện nay anh T1 và chị T2 đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản:
Ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Trong Biên bản hoà giải ngày 20/12/2024, bị đơn là bà Nguyễn Thị Bé S trình bày: Bà Bé S thống nhất thời gian thành hôn, đăng ký kết hôn và con chung như ông T trình bày. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do nghi ngờ ông T có người phụ nữ khác bên ngoài nên từ tháng 01/2024 cho đến nay vợ chồng không còn hạnh phúc. Bà S xin được đoàn tụ lo cho con.
Tại phiên toà: Ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn, cương quyết xin ly hôn bà S.
Bà S không đồng ý ly hôn xin được đoàn tụ lo cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- Về trình tự, thủ tục tố tụng:
- Về nội dung:
- Về hôn nhân:
- Về con chung:
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn T yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Bé S về việc ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn”. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu ly hôn của ông T và bà S là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà S do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến với nhau về các vấn đề trong cuộc sống, từ đó làm cho tình cảm vợ chồng không còn nữa. Trong thời gian không chung sống giữa ông T và bà S không quan tâm chăm sóc với nhau, không tự đoàn tụ được với nhau. Sự việc tranh chấp đã được Toà án hoà giải giúp đỡ vợ chồng đoàn tụ nhưng không đạt kết quả, ông T cương quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Bé S.
Xét thấy, hôn nhân giữa ông T và bà S mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T, xử cho ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bé S.
Có 02 người con chung tên Nguyễn Đức T1, sinh năm 1992 và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1995, hiện nay anh T1 và chị T2 đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ông T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
- Về hôn nhân: Xử cho ông Nguyễn Văn T ly hôn bà Nguyễn Thị Bé S.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Đức T1, sinh năm 1992 và Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1995, hiện nay anh T1 và chị T2 đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Nguyễn Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu số No 0014556 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình nên ông T không phải nộp thêm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T với bà Nguyễn Thị Bé S có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Nguyễn Văn Điều |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thanh - Nguyễn Thị Bé Sáu
