|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 42/2025/DS - ST Ngày: 21-3-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Duy
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Ông Trần Hoàng Bảy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Quách Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 458/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng T (tên theo đơn khởi kiện).
Tên ngân hàng hiện nay: Ngân hàng T1 số.
Địa chỉ trụ sở: số A, đường H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ liên hệ: số A, đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh H - Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Nhật H1 - Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1).
Bị đơn: Ông Đặng Hoàng D, sinh năm: 1992.
Địa chỉ thường trú: số 305/3 ấp C, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
(Đại diện nguyên đơn có mặt; Bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/01/2024, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng T1 số trình bày:
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bằng đơn này, Ngân hàng T1 số khởi kiện đối với ông Đặng Hoàng D, đề nghị giải quyết những vấn đề sau đây đối với ông Đặng Hoàng D:
Ông Đặng Hoàng D phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi Ngân hàng T1 Công nghệ số số tiền vốn vay còn nợ là 1.799.753.043 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 21/3/2025 là 868.551.767 đồng, cộng chung là 2.668.304.810 đồng.
Ông Đặng Hoàng D còn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi và phí phát sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5/2020/24101/08.HĐTD/050 ngày 24/12/2020 đã ký kết với Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) kể từ ngày 22/3/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp ông Đặng Hoàng D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên đây thì Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1 số) là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 1036, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 418302, số vào số cấp GCN: CH09484 do UBND quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 20/07/2015 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5/2020/24101/09.1.HĐTC/050 ngày 24/12/2020. được công chứng tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ (số công chứng: 13332, quyền số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD), đăng kí giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai quận B, thành phố Cần Thơ ngày 24/12/2020 để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Đặng Hoàng D đối với Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1).
Bị đơn là Đặng Hoàng D vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định của Điều 68, 70, 71, 72, 234 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên để thu hồi nợ.
Về án phí và chi phí tố tụng: đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời cũng không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho các đương sự đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ và đúng với quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về chứng cứ trong vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là hợp đồng tín dụng số 5/2020/24101/08.HĐTD/050 ngày 24/12/2020 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5/2020/24101/09.1.HĐTC/050 ngày 24/12/2020 được công chứng tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ (số công chứng: 13332, quyền số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD), đăng kí giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai quận B, thành phố Cần Thơ ngày 24/12/2020, thể hiện việc nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 1.800.000.000 đồng, tính đến ngày 21/3/2025, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vốn vay còn nợ là 1.799.753.043 đồng. Xét thấy, các chứng cứ này đã được công chứng, chứng thực hợp pháp, đăng ký thế chấp đúng theo quy định của pháp luật và các bị đơn cũng thừa nhận cho nên đây là những chứng cứ thuộc trường hợp “những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Như vậy giữa nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện giao dịch về tài sản thông qua hợp đồng cấp tín dụng dưới hình thức vay tiền có kỳ hạn và có lãi theo quy định của pháp luật là có thật.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn: Xét thấy, bị đơn đã có vay tiền của nguyên đơn, đồng thời các bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số 5/2020/24101/08.HĐTD/050 ngày 24/12/2020, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Cho nên, yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn phải thanh toán số tiền vốn vay còn nợ là 1.799.753.043 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 21/3/2025 là 868.551.767 đồng, cộng chung: 2.668.304.810 đồng là chính đáng, có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Vấn đề xử lý tài sản thế chấp: Khi thực hiện giao dịch vay tiền theo hợp đồng tín dụng số 5/2020/24101/08.HĐTD/050 ngày 24/12/2020, nguyên đơn, bị đơn đã xác lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5/2020/24101/09.1.HĐTC/050 ngày 24/12/2020 được công chứng tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ (số công chứng: 13332, quyền số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD), đăng kí giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai quận B, thành phố Cần Thơ ngày 24/12/2020 thế chấp tài sản là thửa đất số 1036, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 418302, số vào số cấp GCN: CH09484 do UBND quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 20/07/2015 cho ông Đặng Hoàng D.
Xét thấy, như đã nhận định trên, việc giao kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nói trên là quyền tự định đoạt của các đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật, việc thế chấp tài sản là để đảm bảo nghĩa vụ trả tiền vốn vay của các bị đơn. Cho nên, yêu cầu của nguyên đơn được yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của các bị đơn là chính đáng, có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322 và Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách tiến hành xem xét, thẩm định tại chổ đối với phần tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất sau: thửa đất số 1036, tờ bản đồ số 14, diện tích 255,3m² địa chỉ: khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 418302, số vào số cấp GCN: CH09484 do UBND quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 20/07/2015 cho ông Đặng Hoàng D. Xét thấy, việc xem xét thẩm định tại chổ là căn cứ để giải quyết vụ án, phù hợp với quy định tại Điều 101 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chổ với số tiền là 17.000.000 đồng, nhiều hơn chi phí xem xét, thẩm định tại chổ thực tế là 8.606.400 đồng và đã nhận lại số tiền còn thừa là 8.393.600 đồng. Như vậy, chi phí xem xét, thẩm định tại chổ với số tiền 8.606.400 đồng mà nguyên đơn đã nộp trước là cần thiết và hợp lý.
Xét thấy, lỗi dẫn đến việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là hoàn toàn thuộc về phía các bị đơn. Bởi lẽ, bị đơn đã không thực hiện đúng những thỏa thuận về thanh toán tiền lãi và trả tiền vốn vay theo nội dung hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Cho nên, bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chổ với số tiền là 8.606.400 đồng là phù hợp với Điều 157 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị đơn không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án đối với việc hoàn trả chi phí xem xét, thẩm định tại chổ cho nguyên đơn.
[7] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c, khoản 1, khoản 2, Điều 92, Điều 101, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, khoản 2, Điều 227, khoản 1, khoản 3, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 280, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 463, Điều 466 và Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 167 và Điều 179 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 27 và Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 12, Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Văn phòng Quốc hội.
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ Điều 7, Điều 8 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ khoản 2, Điều 26, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1). Buộc ông Đặng Hoàng D chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1 số) số tiền vốn vay còn nợ là 1.799.753.043 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 21/3/2025 là 868.551.767 đồng, cộng chung là 2.668.304.810 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Đặng Hoàng D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) thì lãi suất mà ông Đặng Hoàng D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1).
Mức lãi suất hai bên thỏa thuận là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
Ngay sau khi ông Đặng Hoàng D thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1 số) mà không phải qua xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) có trách nhiệm giải chấp tài sản đã thế chấp và trả lại hồ sơ thế chấp tài sản cho ông Đặng Hoàng D theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5/2020/24101/09.1.HĐTC/050 ngày 24/12/2020 được công chứng tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ (số công chứng: 13332, quyền số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD).
- Về quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án:
Trường hợp ông Đặng Hoàng D không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý tài sản thế chấp theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 đối với tài sản thế chấp theo theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 5/2020/24101/09.1.HĐTC/050 ngày 24/12/2020 được công chứng tại Văn phòng C, thành phố Cần Thơ (số công chứng: 13332, quyền số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD), được ký kết giữa Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) với ông Đặng Hoàng D để đảm bảo thi hành án. Tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp gồm: thửa đất số 1036, tờ bản đồ số 14, diện tích 255,3m² địa chỉ: khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 418302, số vào số cấp GCN: CH09484 do UBND quận B, thành phố Cần Thơ cấp ngày 20/07/2015 cho ông Đặng Hoàng D.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) được nhận lại số tiền chi phí tố tụng đã thanh toán trước là 8.606.400 đồng. Buộc ông Đặng Hoàng D chịu trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) 8.606.400 đồng tiền chi phí tố tụng.
- Về án phí: Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 39.326.000 đồng theo biên lai thu số 0007451 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách.
Ông Đặng Hoàng D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 85.366.096 đồng.
Ông Đặng Hoàng D không phải chịu án phí, lệ phí Tòa án đối với việc hoàn trả chi phí tố tụng cho Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1).
- Án xử công khai, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng T (nay là Ngân hàng T1) có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án.
Ông Đặng Hoàng D không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hải Duy |
Bản án số 42/2025/DS - ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 42/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
