Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/DS-ST

Ngày: 20/03/2025

V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAΙ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam - Cán bộ hưu trí

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa - Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thuỳ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Đông - KSV

Ngày 20 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 755/2024/TLST-DS ngày 15/7/2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QÐST-DS ngày 06/02/2025, Quyết định hoãn phiên Tòa số 303/2025/QÐST-DS ngày 27/02/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở: 266-268, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D; Chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quang Đ – Phó Giám đốc chi nhánh Đ2 kiểm trưởng phòng G.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1984; Chức vụ: Trưởng bộ phận quản lý tín dụng và quản lý rủi ro.

Theo văn bản uỷ quyền số 313/GUQ- CNĐN ngày 31/05/2024

- Bị đơn: Ông Hoàng Mạnh K, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: B, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Ông Đ1 có mặt, ông K vắng mặt không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 23/09/2022, Ông K có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Ông K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 60.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông K1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền gốc và lãi là 44.567.486 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Ông K1 chưa thanh toán cho Ngân hàng số tiền 44.567.486 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Ông K1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Ông K1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/03/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 20/03/2025, Ông K1 còn nợ các khoản sau:

  • + Nợ gốc: 36.000.000 đồng
  • + Lãi quá hạn: 8.567.486 đồng
  • + Tổng cộng: 44.567.486 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm tám mươi sáu đồng)

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với Ông K1, yêu cầu Ông K1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để Ông K1 trả nợ, tuy nhiên Ông K1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu

  1. Buộc Ông Hoàng Mạnh K có trách nhiệm trả tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 20/03/2025 là 44.567.486 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm tám mươi sáu đồng).
  2. Ông Hoàng Mạnh K có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn ông Hoàng Mạnh K vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện.

* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật, Đối với người tham gia tố tụng thì bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Hoàng Mạnh K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ còn thiếu tính đến ngày 20/3/2025 là:

  • + Nợ gốc: 36.000.000 đồng
  • + Lãi quá hạn: 8.567.486 đồng
  • + Tổng cộng: 44.567.486 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm tám mươi sáu đồng)

Về án phí DSST: ông Hoàng Mạnh K phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Hoàng Mạnh K đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định pháp luật.

[2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[3] Về tư cách đương sự: Căn cứ khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần S là nguyên đơn, ông Hoàng Mạnh K là bị đơn trong vụ kiện.

[4] Về nội dung vụ án:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện ông Hoàng Mạnh K yêu cầu thanh toán số tiền nợ còn thiếu theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22320922 ngày 23/09/2022 tính đến ngày 20/03/2025 là :

  • + Nợ gốc: 36.000.000 đồng
  • + Lãi quá hạn: 8.567.486 đồng
  • Tổng cộng: 44.567.486 đồng (Bốn mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm tám mươi sáu đồng)

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã cung cấp cho Tòa án giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22320922 ngày 23/09/2022; bảng tóm tắt sao kê( Tất cả là bản sao có công chứng)

Quá trình Tòa án thụ lý vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và công khai chứng cứ, thông báo hoãn phiên Hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa cho ông Hoàng Mạnh K nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do.

Căn cứ khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc yêu cầu ông Hoàng Mạnh K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ vay còn thiếu theo án giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22320922 ngày 23/09/2022 tính đến ngày 20/03/2025 là :

  • + Nợ gốc: 36.000.000 đồng
  • + Lãi quá hạn: 8.567.486 đồng
  • Tổng cộng: 44.567.486 đồng (Bốn mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm tám mươi sáu đồng)

[5] Về án phí DS-ST: Ông K phải nộp theo quy định pháp luật.

[6] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, khoản 2, 3, 4 Điều 68; Khoản 1 điều 91, khoản 1 điều 95; khoản 1 điều 156, khoản 1 điều 158; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Điều 4; Điều 463, Điều 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S .

Buộc ông Hoàng Mạnh K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ còn thiếu theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 22320922 ngày 23/09/2022 tính đến ngày 20/03/2025 là :

  • + Nợ gốc: 36.000.000 đồng
  • + Lãi quá hạn: 8.567.486 đồng
  • Tổng cộng: 44.567.486 đồng (Bốn mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm tám mươi sáu đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ông K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ vay chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chính lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí DS-ST: ông K phải nộp 2.228.374₫ (Hai triệu hai trăm hai mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi bốn đồng). Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần S 708.325đ( Bảy trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004596 ngày 05/07/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

3. Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông K2 vắng mặt tại Toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (01);
  • - VKSND TP.Biên Hòa (02);
  • - THADS TP.Biên Hòa (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Mộng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/DS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAΙ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 42/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAΙ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân ah2ng SGTT kiện ông K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger