Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST

Ngày: 14/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hảo và ông Nguyễn Hữu Lợi

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Quỳnh Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thịnh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/HSST-QĐ ngày 04/3/2025, đối với bị cáo:

Xa Thị T, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2005; nơi sinh và cư trú: Xóm Q, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Con ông Xa Văn K, con bà Phùng Thị T1; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt

* Bị hại: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1999. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Sa Thị Minh N, sinh năm 2009; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xa Thị T và chị Phạm Thị L có mối quan hệ quen biết do cùng làm công nhân tại bộ phận sản xuất của Công ty TNHH A ở khu công nghiệp T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. T biết ngày 8/11/2024 là ngày Công ty TNHH A trả tiền lương thông qua tài khoản ngân hàng, nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của chị L để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 01 giờ ngày 9/11/2024, khi cả hai đang ngồi nghỉ giải lao tại khu vực tủ để đồ cá nhân, T đã nói dối chị L là T cần số tiền 10.000 đồng để đăng ký mạng 4G và hỏi vay chị L bằng hình thức chuyển tiền tài khoản (mục đích của T là khi chị L thực hiện thao tác chuyển tiền trên ứng dụng sẽ ghi nhớ mật khẩu mở máy, mật khẩu ứng dụng chuyển tiền, mật khẩu xác nhận chuyển tiền (mã pin)), chị L đồng ý rồi sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu trắng đăng nhập ứng dụng chuyển tiền của Ngân hàng Đ1 chuyển khoản số tiền 10.000 đồng từ số tài khoản số 8800782683 mang tên Phạm Thị L tới số tài khoản 106883372777 mang tên Xa Thị T được mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C (tài khoản này T đang cho chị Sa Thị Minh N quản lý, sử dụng để công ty trả lương bởi chị N bị mất căn cước công dân chưa thể làm thẻ ngân hàng). Khi chị L chuyển tiền, T quan sát và ghi nhớ được mật khẩu mở khóa màn hình điện thoại của chị L là “051299”, mật khẩu đăng nhập ứng dụng chuyển tiền là “L @051299”, mật khẩu xác nhận chuyển tiền (mã pin) là “051299”. Sau khi chuyển tiền cho T, chị L cất điện thoại tại tủ đồ cá nhân (không có khóa) rồi quay lại xưởng tiếp tục làm việc. Lúc này, T đi đến lấy chiếc điện thoại của chị L được cất trong tủ đồ rồi truy cập vào ứng dụng chuyển tiền thao tác chuyển số tiền 6.300.000đồng từ tài khoản số 8800782683 của chị L tới số tài khoản 106883372777 của T rồi để lại chiếc điện thoại vào tủ đồ. Sau đó, do có hẹn trước cho chị N mượn điện thoại di động để sử dụng nên T đi thẳng ra cổng công ty. Tại đây, T đưa cho chị N chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu cam và nhờ chị N chuyển toàn bộ số tiền 6.310.000 đồng từ tài khoản số [...] của T sang tài khoản số 4254044255 mang tên Xa Thị T được mở tại ngân hàng B rồi quay trở lại xưởng tiếp tục làm việc. Đến khoảng 4h45' ngày 9/11/2024, khi nghỉ giải lao chị L kiểm tra điện thoại thì phát hiện thấy thông báo trừ tiền trong tài khoản nên đã báo cáo với anh Nguyễn Văn Đ (quản lý bộ phận bảo an) của Công ty TNHH A để kiểm tra hệ thống camera giám sát. Qua kiểm tra phát hiện Xa Thị T là đối tượng đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mình nên chị L đã có đơn trình báo Công an huyện B.

Sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành xác minh hiện trường, trích xuất dữ liệu camera giám sát tại Công ty TNHH A, triệu tập T đến Cơ quan điều tra để làm việc. Tại Cơ quan điều tra Xa Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Xa Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu cam và số tiền 6.300.000 đồng; của chị L 01 bản sao kê tài khoản của Ngân hàng Đ1 để phục vụ công tác điều tra.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSBX, ngày 12/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Xa Thị T về tội “Sử dụng phương tiện điện tử nhằm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Xa Thị T phạm tội “Sử dụng phương tiện điện tử nhằm chiếm đoạt tài sản”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, xử phạt bị cáo Xa Thị T từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng; Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu cam của T; Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự.

Bị cáo không bào chữa gì thêm và nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, chị L vắng mặt và đơn xin xét xử vắng mặt, quá trình điều tra, chị L đã nhận lại tài sản, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T. Xét thấy, sự vắng mặt của chị L không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 01h5' ngày 9/11/2024, tại khu vực tủ để đồ của công nhân Công ty TNHH A thuộc Khu công nghiệp T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Xa Thị T lợi dụng sơ hở của chị Phạm Thị L khi chuyển tiền trên ứng dụng Smartbanking của Ngân hàng B cho T vay tiền, T đã lấy được mật khẩu mở máy điện thoại, mật khẩu đăng nhập ứng dụng Smartbanking, mã pin chuyển tiền. Sau đó T đã truy cập bất hợp pháp một lần để thao tác chuyển số tiền 6.300.000 đồng từ tài khoản số 8800782683 mang tên Phạm Thị L được mở tại Ngân hàng B tới số tài khoản 106883372777 mang tên Xa Thị T được mở tại Ngân hàng V.

Do đó, hành vi của bị cáo Xa Thị T đã phạm vào tội “Sử dụng phương tiện điện tử nhằm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 290 của Bộ luật Hình sự, nội dung Điều luật quy định:

“1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; ..."

Hành vi của bị cáo là hành vi tuy ít nguy hiểm cho xã hội, nhưng đã xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong xã hội đặc biệt trong các công ty trên địa bàn. Do đó, vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, sau khi sự việc bị phát hiện đã tự nguyện khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật Hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy, bị cáo là phụ nữ, tuổi còn trẻ, là người dân tộc, phạm tội do nhất thời; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cứ trú rõ ràng, ổn định nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà để bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Như vậy, cũng đủ để răn đe đối với bị cáo, đồng thời tạo cơ hội cho bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 09/11/2024, T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 6.300.000đồng, ngày 07/01/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L số tiền 6.300.000đồng. Sau khi nhận đủ số tiền trên chị L không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về vật chứng: Đối với 01 bản sao kê tài khoản của Ngân hàng Đ1 là tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu cam thu giữ của Xa Thị T. Quá trình điều tra xác định đây công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7]. Về các vấn đề khác: Đối với Sa Thị Minh N là người được T nhờ chuyển toàn bộ số tiền 6.310.000 đồng từ tài khoản số [...] của T được mở tại Ngân hàng V (do chị N đang quản lý) sang tài khoản số 4254044255 mang tên Xa Thị T được mở tại Ngân hàng B. Tuy nhiên, khi trao đổi, T không nói cho chị N biết nguồn gốc số tiền do T phạm tội mà có, nên chị N đã tin và làm theo. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Xa Thị T phạm tội “Sử dụng phương tiện điện tử nhằm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 290; điểm i, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự:

Xử phạt bị cáo Xa Thị T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Xa Thị T cho UBND xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu cam thu giữ của Xa Thị T.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/02/2025 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên).

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Xa Thị T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Bình Xuyên;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng Hồ sơ – Cơ quan CSĐT Công an tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự,
  • - UBND xã Kim Thượng, Tân Sơn, Phú Thọ;
  • - Phòng THAHS và Hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN - TỈNH VĨNH PHÚC về sử dụng phương tiện điện tử nhằm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 42/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng phương tiện điện tử nhằm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xa Thị Th chiếm đoạt số tiền 6.300.000đ trong tài khoản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger