Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/DS-PT

Ngày 13-3-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ứng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Nguyễn Thế Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Huê, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Dương Phúc Trường – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 140/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”,

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 18, 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo,

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 123/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 20/2025/QĐPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 14/TB-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 52/2025/QĐPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành M, bà Vũ Hoàng Thu V và bà Vũ Thị T; cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Ông M, bà T có mặt, bà V vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Vũ Hoàng Thu V: Bà Vũ Thị T; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông theo văn bản ủy quyền ngày 07 tháng 8 năm 2024) – Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng T1; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Minh S; địa chỉ: C Nữ D, Tổ E, ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 10 năm 2024) – Có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ngân hàng TMCP S2; địa chỉ: B - B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
    2. Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP S2 – phòng G; địa chỉ: Lô D, khu công nghiệp T, xã T, huyên C, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
    3. Bà Trần Thị N; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
    4. Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị N: Ông Nguyễn Hồng T1; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông (theo văn bản ủy quyền ngày 14 tháng 8 năm 2024) – Vắng mặt.
    5. Ông Nguyễn N1; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
  • - Người làm chứng:
    1. Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị M1; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
    2. Bà Nguyễn Thị S1; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hồng T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11-03-2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ông Nguyễn Thành M, bà Vũ Hoàng Thu V và bà Vũ Thị T trình bày:

Bà Vũ Thị T, ông Nguyễn Thành M và bà Vũ Hoàng Thu V cùng sử dụng chung thửa đất 19, tờ bản đồ số 28 với diện tích 910,7m², tọa lạc tại thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Nguồn gốc do ông bà nhận chuyển nhượng của ông L, bà M2. Ngày 10-09-2021, ông bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số DA 173458, DA 173457, DA 173456 mang tên Nguyễn Thành M, Vũ Hoàng Thu V, Vũ Thị Tuyết . Cuối năm 2021, ông bà phát hiện ông Nguyễn Hồng T1 múc đất và múc sang cả thửa đất số 19 nên ông bà khởi kiện yêu cầu ông T1 trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 360m².

Khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc thực tế thì phần diện tích đất mà ông T1 lấn chiếm của ông bà là 496,7m². Tuy nhiên trong phần diện tích đất 496,7m² thì có 66,2 m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông bà và có 18,9 m² đất chồng lấn lên thửa đất số 18 của ông T1. Tại phiên Tòa ông M, bà T yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hồng T1 phải trả lại cho ông M, bà T phần diện tích đất lấn chiếm là 411,6m² (496,7m² - 18,9m² - 66,2m² = 411,6m²).

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hồng T1 trình bày:

Ông T1 đang là người sử dụng thửa đất số 18, tờ bản đồ số 28 với diện tích 365,7m², tọa lạc tại thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông, nguồn gốc do ông được mẹ là bà Nguyễn Thị S1 tặng cho năm 2013. Ngày 23-12-2013, ông T1 được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Nông cấp GCNQSDĐ số BR 413540.

Thửa đất số 18 của ông T1 và thửa đất số 19 của bà T, ông M, bà V ranh giới được xác định là con suối cạn. Năm 2021 bà T, ông M, bà V đưa máy múc và múc đất qua phần đất của ông nên phát sinh tranh chấp. Ngoài thửa đất mà ông N1 đang quản lý, sử dụng thì ông vẫn còn một thửa đất giáp phần diện tích đất của ông N1, một phần giáp khe cạn nhưng không xác định được diện tích đất cụ thể là bao nhiêu và cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T1 thừa nhận ông không có tài liệu chứng cứ chứng minh ông còn một thửa đất giáp thửa đất số 18. Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn yêu cầu trả lại đất thì ông không đồng ý.

Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • - Ông Nguyễn N1: Năm 2007 ông N1 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị S1 một thửa đất với diện tích khoảng 500m², không đo đạc cụ thể mà chỉ áng trừng. khi chuyển nhượng có làm giấy viết tay, hiện tại hợp đồng chuyển nhượng bằng giấy viết tay không còn do bị mối mục. Khi ông N1 nhận chuyển nhượng đất thì đất chưa được cấp GCNQSDĐ, đến nay thì giữa ông N1 và bà S1 cũng chưa làm thủ tục chuyển nhượng. Đến năm 2013 nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng loạt tại khu vực đất của ông N1, tuy nhiên do ông N1 không có giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, số hộ khẩu...) nên không làm được thủ tục kê khai đề được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông N1 cũng không biết lý do tại sao thửa đất đó lại được cấp cho ông Nguyễn Hồng T1. Ông N1 quản lý, sử dụng thửa đất từ đó đến nay và không tranh chấp với ai. Thửa đất mà hiện nay ông N1 đang quản lý, sử dụng là thửa đất số 18, tờ bản đồ số 28. Việc tranh chấp đất đai giữa nguyên đơn với bị đơn không liên quan gì đến ông N1 nên ông không có yêu cầu độc lập.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị N: Đồng ý với ý kiến của ông T1 và không có ý kiến gì khác.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S2: Ngày 18/7/2023 Ngân hàng thương mại cổ phần S2 - phòng G và ông Nguyễn Hồng T1, bà Trần Thị N có ký hợp đồng tín dụng số [...], theo đó Ngân hàng cho ông T1, bà N vay số tiền 150.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng. Để bảo đảm cho khoản tiền vay, ông T1, bà N đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 28 với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 365,7 m². Trường hợp khi

đến hạn thanh toàn nợ mà ông T1, bà N không thanh toán cho Ngân hàng thì ngân hàng sẽ khởi kiện bằng vụ án độc lập. Việc tranh chấp đất đai giữa các đương sự không liên quan đến Ngân hàng, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án những người làm chứng trình bày:

  • - Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị M1: Năm 1982 gia đình ông bà có khai hoang được một mảnh đất với diện tích khoảng 02 ha. Thời điểm đó gia đình bà Nguyễn Thị S1 chưa đến khu vực đó sinh sống. Đến năm 2013 nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân trong đó có gia đình ông L, bà M1 nên gia đình ông bà có đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ khi được cấp giấy chứng nhận đến khi gia đình ông L, bà M1 chuyển nhượng lại cho ông M, bà V, bà T thì gia đình ông L sử dụng ổn định không có tranh chấp. Đến năm 2021 ông L, bà M1 chuyển nhượng lại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28 với diện tích khoảng hơn 900 m² cho ông M, bà V, bà T. Khi chuyển nhượng đất cho các nguyên đơn thì có giao đất thực tế và có xác định mô mốc, đóng cọc, trên thửa đất số 19 có một khe cạn. Ranh giới giữa đất của ông L và ông T1 không có con suối nào cả. Phần diện tích đất các bên đang tranh chấp đúng là phần diện tích đất mà ông lộc, bà M1 chuyển nhượng cho các nguyên đơn.
  • - Bà Nguyễn Thị S1: Vào khoảng năm 2008 bà S1 có tặng cho con trai bà là anh Nguyễn Hồng T1 một mảnh đất tại thôn D, xã T, huyện C, khi bả Sáng tặng cho anh T1 thì không do đạc cụ thể nên không biết diện tích đất là bao nhiêu. Khi bà S1 tặng cho anh T1 quyền sử dụng đất thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà S1 bàn giao đất cho anh T1 thì không chỉ ranh và cũng không có hộ liền kề chứng kiến. Trước đó vào khoảng năm 2007 bà S1 có chuyển nhượng cho ông Nguyễn N1 một thửa đất, không đo đạc cụ thể, việc chuyển nhượng đất giữa bà S1 và ông N1 có lập hợp đồng bằng giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Đến năm 2013 thì ông T1 đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có cả phần diện tích đất mà bà S1 đã chuyển nhượng cho ông N1.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 18, 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 101, Điều 166, Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành M, bà Vũ Hoàng Thu V, bà Vũ Thị T đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Hồng T1 trả lại diện tích đất

411,6 m² . Địa chỉ thửa đất tại: Thôn D, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Đất có tứ cận: Phía đông giáp đường nhựa liên xã, Phía tây giáp đất ông T1, phía Nam giáp phần đất còn lại của ông M, bà T, bà V, phía bắc giáp đất ông T1. Chiều dài các cạnh có sơ đồ đo đạc kèm theo.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13-10-2024, bị đơn ông Nguyễn Hồng T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu chứng cứ mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông ông Nguyễn Hồng T1 nộp trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu kháng cáo:

[2.1]. Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông L, bà M2 vào năm 2021. Khi nhận chuyển nhượng, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013 mang tên ông L, bà M2. Theo nguyên đơn xác định diện tích đất có chiều ngang giáp đường dài 38m, chiều dài theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng, nguyên đơn có thỏa thuận miệng với bị đơn về việc đổi phần diện tích đất phía trước có chiều ngang dài 15m, chiều dài hết thửa đất thuộc thửa đất số 19 của nguyên đơn để lấy phần diện tích đất phía sau thuộc thửa đất số 20 của bị đơn chiều ngang dài 20m, chiều dài hết thửa đất. Bị đơn đồng ý đổi, tuy nhiên khi nguyên đơn thực hiện việc khai phá, cải tạo đất tại thửa đất số 20 thì bị đơn không đồng ý đổi đất nữa, sau đó bị đơn dùng máy múc múc mương tự nhiên chồng lên phần đất của nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng của ông L nên đã phát sinh tranh chấp.

[2.2]. Bị đơn thừa nhận diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn thuộc thửa số 18, tờ bản đồ số 28 và cho rằng diện tích đất 15m chiều ngang đang tranh chấp với nguyên đơn là phần đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không thuộc thửa đất số 19 của nguyên đơn. Để chứng minh cho nội dung này, bị đơn cho rằng ranh giới xác định đất của bị đơn với ông L (người khai hoang thửa đất số 19) sau đó chuyển

nhượng lại cho nguyên đơn là con mương tự nhiên. Bị đơn cho rằng phần đất đang tranh chấp là của bị đơn, lý do đã khai hoang từ năm 1982.

[2.3]. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả lồng ghép xác định vị trí diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 28 có nguồn gốc do ông L khai hoang và đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013, sau đó ông L chuyển nhượng cho nguyên đơn vào năm 2021. Căn cứ theo quy định tại Khoản 5 Điều 166, Điều 167 của Luật Đất đai 2013 thì trong trường hợp này người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được nhà nước bảo hộ và được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác. Việc nguyên đơn căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất được cấp để yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm là có căn cứ.

[2.4]. Xét quá trình sử dụng đất: Nguyên đơn thừa nhận diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng từ ông L vào năm 2021, bị đơn khai diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc nhận tặng cho từ bà Nguyễn Thị S1, nhưng hiện trạng sử dụng đất các bên đều thừa nhận đất vẫn còn cây rừng, không có cây trồng nào khác. Mặc khác, tại thời điểm năm 2013 cả ông L (là người chuyển nhượng đất cho nguyên đơn) và bị đơn đều kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã có ranh giới rõ ràng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ số có vị trí, tọa độ thể hiện rõ diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị đơn cũng không có ý kiến khiếu nại về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng so với diện tích đất bị đơn đang quản lý sử dụng. Chỉ đến khi ông L chuyển nhượng cho nguyên đơn vào năm 2021 và do sự việc đổi đất không thành nên dẫn đến phát sinh tranh chấp. Như vậy, việc bị đơn cho rằng diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền quản lý và sử dụng của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.5]. Từ những vấn đề nhận định, phân tích nêu trên xét thấy việc cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên nội dung kháng cáo của bị đơn không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2.7]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản đã nộp.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hồng T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 18, 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

1. Căn cứ Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 101, Điều 166, Điều 167 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành M, bà Vũ Hoàng Thu V, bà Vũ Thị Tuyết . Buộc ông Nguyễn Hông T2 trả lại diện tích đất 411,6 m², có vị trí, tứ cận: Phía đông giáp đường nhựa liên xã; Phía tây giáp đất ông T2; phía Nam giáp phần đất còn lại của ông M, bà T, bà V; phía bắc giáp đất ông T2. (Chiều dài các cạnh có sơ đồ đo đạc kèm theo).

2. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 14.254.000 đồng (mười bốn triệu hai trăm năm mươi tư nghìn đồng). Ông Nguyễn Thành M, bà Vũ Hoàng Thu V, bà Vũ Thị T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 14.254.000 đồng (mười bốn triệu hai trăm năm mươi tư nghìn đồng). Ông M, bà T, bà V đã nộp đủ số tiền này.

3. Về án phí:

3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Buộc ông Nguyễn Hồng T1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Trả lại cho ông Nguyễn Thanh M3, bà Vũ Hoàng Thu V và bà Vũ Thị T số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003717 ngày 29-3-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Nguyễn Hồng T1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005279 ngày 15-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - TAND huyện Cư Jút;
  • - VKSND huyện Cư Jút;
  • - Chi cục THADS huyện Cư Jút;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: TDS, THCTP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Ứng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 42/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp kháng của bị đơn. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger