|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày 07-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đức Việt; Ông Cao Kim Hoàn
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo.
Họ và tên: Phạm Thị D - Sinh ngày 13 tháng 9 năm 1997 tại huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc
Nơi cư trú: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn S; Con bà Lê Thị G; Chồng Dương Công T; Bị cáo có 03 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 21/8/2024, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma túy - Công an thành phố L, phối hợp với Lực lượng quản lý thị trường thành phố L đang thực hiện nhiệm vụ tại khu vực đường N, tổ C, phường C, thành phố L, phát hiện kiểm tra hành chính đối với Phạm Thị D tại trước cửa số nhà B, đường N, phường C, thành phố L. Tổ công tác đã mời bà Hà Thị D1 chứng kiến tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra Phạm Thị D (Sinh năm 1997; thường trú tại số nhà B, đường N, phường C, thành phố L) tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 thùng bìa các tông đang bê trên tay, 02 thùng đặt trên nền trước cửa số nhà 237 và 03 thùng đang đặt trước cửa số nhà B, khai nhận là các thùng thuốc lá điếu. Tổ công tác kiểm tra các thùng các tông phát hiện: Thùng thứ nhất, thùng thứ hai, thùng thứ ba và thùng thứ tư đều chứa 30 cây thuốc lá màu vàng trên vở bao in chữ “Yuhuashi” và các ký tự nước ngoài, bên trong mỗi cây đều có 10 (mười) bao; Thùng thứ năm chứa 22 cây thuốc lá màu đỏ trên vỏ bao in chữ “CHUNGHWA” và các ký tự nước ngoài, bên trong mỗi cây đều có 10 (mười) bao; Thùng thứ sáu, thùng thứ bảy đều chứa 30 cây thuốc lá màu xanh, vàng, trắng trên vỏ bao in chữ “HEHUA” và các ký tự nước ngoài, bên trong mỗi cây đều có 10 (mười) bao. Phạm Thị D khai nhận các thùng các tông là thuốc lá điếu mua về để bán kiếm lời và không có giấy tờ, tài liệu chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của số hàng hóa trên. Ngoài ra còn tạm giữ của Phạm Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro max đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, Phạm Thị D khai nhận: Ngày 16/8/2024, Phạm Thị D đang ở nhà thì nảy sinh ý định đặt mua thuốc lá điếu về để bán kiếm lời. Phạm Thị D đã lên mạng xã hội tìm kiếm và dùng điện thoại của mình liên lạc với số điện thoại 0916.111.xxx của một người nam giới tên P hỏi mua được 202 cây thuốc lá điếu tương đương với 2020 bao thuốc lá điếu các loại với giá 25.000.000 (Hai mươi năm triệu) đồng và thỏa thuận sẽ thanh toán bằng cách chuyển khoản khi nhận được hàng. Sau khi thỏa thuận xong Phạm Thị D gửi địa chỉ nhận hàng cho người nam giới tên P. Đến khoảng 16 giờ ngày 21/08/2024, Vũ Thanh N, sinh năm 1994 là nhân viên giao hàng thuộc Công ty C thực hiện chuyển 07 thùng hàng trên đến số nhà B, đường N, tổ C, phường C, thành phố L cho Phạm Thị D nhưng Phạm Thị D không có nhà nên N gọi lại cho số điện thoại người gửi nên được hướng dẫn gửi tại số nhà B bên cạnh. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi Phạm Thị D về nhà và đang vận chuyển 07 thùng hàng về nhà thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Tại bản kết luận giám định số: 6509/KL- GĐMT ngày 23/8/2024 của V Bộ C1 đã kết luận: Toàn bộ 1.200 (Một nghìn hai trăm) bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “Yuhuashi”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Yuhuashi”; Toàn bộ 220 (Hai trăm hai mươi) bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “CHUNGHWA”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “CHUNGHWA”; Toàn bộ 600 (Sáu trăm) bao thuốc lá (mỗi bao thuốc chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “HEHUA”, đều không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “HEHUA”. Tất cả các mẫu thuốc lá điếu gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam và không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố Phạm Thị D về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị D phạm tội “Buôn bán hàng cấm” xử phạt bị cáo Phạm Thị D mức án 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm. Xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thị D:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Ngày 16/8/2024, Phạm Thị D đang ở nhà thì nảy sinh ý định đặt mua thuốc lá điếu về để bán kiếm lời. Phạm Thị D đã lên mạng xã hội tìm kiếm và dùng điện thoại của mình liên lạc với số điện thoại 0916.111.xxx của một người nam giới tên P hỏi mua được 202 cây thuốc lá điếu tương đương với 2020 bao thuốc lá điếu các loại với giá 25.000.000 đồng và thỏa thuận sẽ thanh toán bằng cách chuyển khoản khi nhận được hàng. Sau khi thỏa thuận xong Phạm Thị D gửi địa chỉ nhận hàng cho người nam giới tên P. Đến khoảng 16 giờ ngày 21/08/2024, Vũ Thanh N, sinh năm 1994 là nhân viên giao hàng thuộc Công ty C thực hiện chuyển 07 thùng hàng trên đến số nhà B, đường N, tổ C, phường C, thành phố L cho Phạm Thị D nhưng Phạm Thị D không có nhà nên N gọi lại cho số điện thoại người gửi nên được hướng dẫn gửi tại số nhà B bên cạnh. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi Phạm Thị D về nhà và đang vận chuyển 07 thùng hàng về nhà thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy việc bị cáo Phạm Thị D đã mua 2020 bao thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam và không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam đã đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương vì vậy cần phải xét xử bị cáo với một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
- [3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; Bị cáo có đóng góp hỗ trợ các hộ khó khăn trên địa bàn địa phương vì vậy được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
- [5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 03 người con còn đều rất nhỏ tuổi (sinh năm 2017, 2019 và 2021) được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào điều 65 của Bộ luật Hình sự, hướng dẫn tại nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét thấy cần cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.
- [6] Về vật chứng vụ án: Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án gồm 07 thùng được dán kín và niêm phong bởi V Bộ C1 bên trong chứa: 96 (chín mươi sáu) cây thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “Yuhuashi”; 17 (mười bảy) cây thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “CHUNGHWA”; 48 (bốn mươi tám) cây thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “HEHUA” còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max thu giữ của Phạm Thị D sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- [7]. Theo lời khai của Phạm Thị D giao dịch mua bán thuốc lá điếu, chủ tài khoản tên là Ngô Văn P, sinh năm 1996, nơi thường trú: Thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nhưng quá trình điều tra không điều tra làm rõ được nên không đề cập xử lý.
- [8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Phạm Thị D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
-
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 07 thùng được dán kín và niêm phong bởi V Bộ C1 bên trong chứa: 96 (chín mươi sáu) cây thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “Yuhuashi”; 17 (mười bảy) cây thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “CHUNGHWA”; 48 (bốn mươi tám) cây thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “HEHUA” còn lại sau giám định
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Phạm Thị D: 01 điện thoai di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro Max, số I:355281431553350 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Thị D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Lanh |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm (tội buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị D phạm tội "Buôn bán hàng cấm"
