|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày: 06-03-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thiên Bảo
- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Võ Hoàng Vũ.
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ Quang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Mai Thanh N (Tên gọi khác: không có), sinh ngày: 11/01/1996; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Hậu Giang; Nơi cư trú: B đường số G, khu đô thị H, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở: như trên.
Nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Mai Thanh B (SN:1973) và bà Nguyễn Thị Thu H (SN: 1970); Vợ: Nguyễn Vạn N1; Con: có 03 người con (lớn nhất sinh năm: 2018, nhỏ nhất sinh năm: 2020).
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/7/2024 hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N (Trước thay đổi gọi là Nhà tạm giữ Công an quận N). Có mặt tại phiên tòa.
-
Trương Hoài H1 (Tên gọi khác: không có), sinh ngày: 03/12/2004; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp C, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở: như trên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, con ông Trương Minh T (SN: 1982) và bà Nguyễn Thị T1 (SN: 1983); bị cáo chưa có vợ - con.
Tiền án; tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/11/2024 hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực N (trước thay đổi gọi là Nhà tạm giữ Công an quận N). Có mặt tại phiên tòa.
-
Trần Văn C (Tên gọi khác: không có), sinh ngày: 20/05/1998; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở: như trên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông Trần Văn H2 (c) và bà Trần Thị Đ (c); bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại:
- Ông Nguyễn Vũ K, sinh năm: 2002. Địa chỉ: B ấp S, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Bà Nguyễn Phạm Thị Như Q, sinh năm: 2003. Địa chỉ: C khu V, phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Vạn N1, sinh năm: 1997. Địa chỉ: B đường số G, khu đô thị H, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
* Người làm chứng:
1. Trần Phú Q1; 2. Nguyễn Phạm Văn Phú Q2; 3. Nguyễn Văn T2; 4. Lê Hoàng P; 5. Nguyễn Tấn L; 6. Huỳnh Quốc L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Vũ K thiếu nợ tiền của Mai Thanh N lâu ngày không trả, nên ngày 16/3/2024 biết anh K là nhân viên của quán ăn H3 trên đường N, phường H, quận N, N rủ Trương Hoài H1 và Trần Văn C đến gặp anh K để đòi nợ. Khoảng 01 giờ cùng ngày, anh K tan ca làm và chở bạn gái là Nguyễn Phạm Như Q bằng xe mô tô nhãn hiệu Scoopy, biển số 95E1-95359 (xe của chị Q) từ quán ra về, khi đến trước địa chỉ số I N, phường H thì bị N chặn xe lại yêu cầu anh K trả tiền rồi dùng mũ bảo hiểm, dùng tay và chân đánh nhiều lần vào vùng mặt, đầu của K, K bị chảy máu mũi. N yêu cầu K đưa chìa khóa xe mô tô hiệu Scoopy cho N nhưng K không đưa nên N tiếp tục đánh K gục ngã nằm trên vỉa hè, thấy K bị đánh nhiều nên Q hoảng loạn, lo sợ nên lấy chìa khóa xe mô tô Scoopy, biển số 95E1-95359 của Q đang đeo trên đỉa quần của K rồi đưa cho N, N yêu cầu trong thời hạn 03 ngày K phải trả nợ cho N, rồi cùng H1 và C lấy xe mô tô của chị Q bỏ đi. Anh K được chị Q đưa đến bệnh viện Đ2 điều trị thương tích. Ngày 16/3/2024 chị Nguyễn Phạm Như Q đến Công an phường H trình báo, đồng thời anh Nguyễn Vũ K có đơn yêu cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng đen có nhiều ký tự số, chữ khác nhau trên mũ do Mai Thanh N giao nộp;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Scoopy biển số 95E1-953.59, màu trắng đen nâu, số khung MH1JM0217MK251097, số máy JM02E1251686 do Trần Văn C giao nộp - Bút lục 91-92
Theo Kết luận giám định số: 220/KLTTCT-TTPYCT ngày 06/5/2024 của Trung tâm P1 của Trung tâm P1 kết luận đối với thương tích của anh Nguyễn Vũ K như sau:
- Chấn thương vùng đầu mặt gây đau đầu, xây xát da ở vùng trán, bầm tím quanh mắt trái; chảy máu mũi, đau và sưng bầm ở vùng xương chính mũi; gãy xương chính mũi, vách ngăn mũi và mỏm trán của xương hàm trên hai bên; đau và sưng nề ở vùng má trái, vết thương kèm sưng bầm ở vùng môi trên đã được điều trị. Hiện tại các vị trí chấn thương đã lành, để lại vết biến đổi sắc tố da ở vùng trán phải, sẹo ở vùng môi trên bên trái, vùng má trái không còn vết tích trên da; bầm tím quanh mắt trái đang trong thời kỳ tán huyết; các vị trí gãy xương đang can; không ảnh hưởng chức năng;
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 20% (hai mươi phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên.
Kết luận định giá tài sản số: 737/KL-HĐĐG ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận N kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda Scoopy biển số 95E1-953.59, màu trắng đen nâu, số khung MH1JM0217MK251097, số máy JM02E1251686 trị giá 30.000.000 đồng.
Quá trình điều tra bị cáo Mai Thanh N khai nhận:
Khoảng 21 giờ ngày 15/3/2024 Nhân từ thành phố N, tỉnh Hậu Giang đến quận N, TP . để tìm K đòi nợ, N rủ thêm Trương Hoài H1 đi cùng. Khi đến Cần Thơ thì N rủ bạn tên Trần Văn C uống nước. Do biết được K làm việc tại quán H3 thuộc đường N, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ nên khoảng 00 giờ ngày 16/3/2024 N chở H1 và C đến đón chờ sẵn K ở phía ngoài, gần quán, đến khoảng 01 giờ ngày 16/03/2024 thấy K điều khiển xe mô tô Scoopy màu trắng biển số 95E1-95359 chở bạn gái tên Nguyễn Phạm Như Q từ trong quán ra về thì N ra chặn xe dùng mũ bảo hiểm, dùng tay và chân đánh gây thương tích cho anh K. N yêu cầu K đưa chìa khóa xe mô tô Scoopy biển số 95E1-95359 nhưng K không đưa nên N tiếp tục dùng tay không đánh K, thấy K bị đánh Q lo sợ nên lấy chìa khóa xe mô tô Scoopy biển số 95E1-95359 đang đeo trên đỉa quần của K đưa cho N để N không đánh K nữa, N cầm chìa khóa xe đưa cho H1 điều khiển đi khỏi hiện trường. N, H1 và C tiếp tục đi uống cà phê đến khoảng 02 giờ thì ra về, do lúc này vào đêm khuya nên N sợ đem xe nhãn hiệu Scoopy, biển số 95E1-95359 về tỉnh Hậu Giang không có giấy tờ sẽ bị Công an kiểm tra nên N nhờ C đem xe này về nhà trọ giữ giùm. Đến chiều cùng ngày thì N bị Công an quận N mời về làm việc.
- Đối với Trương Hoài H1 khai nhận:
H1 biết việc trước đây N có nhận cầm cố xe mô tô của K nhưng K nhận lại xe, còn thiếu nợ tiền chưa trả cho N nên mục đích đi thành phố Cần Thơ là để tìm K đòi nợ và lấy lại xe. Khoảng 00 giờ ngày 16/3/2024 H1 đi theo N chờ Khương, khi gặp được K thì N ra chặn đánh K gây thương tích, N yêu cầu K phải giao chìa khóa xe Scoopy biển số 95E1-95359 nhưng K không đồng ý đưa nên bị N tiếp tục đánh. Lúc này, Q khóc và lo sợ nên đến lấy chìa khóa xe này đưa cho N, N đưa chìa khóa cho H1 điều khiển xe đi khỏi hiện trường theo yêu cầu của N. Trên đường về tỉnh Hậu Giang thì N cho H1 300.000 đồng.
- Đối với Trần Văn C khai nhận:
Khoảng 22 giờ ngày 15/3/2024 N điện thoại rủ Cho uống cà phê, thông qua bạn của mình thì Cho biết được N lên Cần Thơ đòi nợ nhưng không rõ cụ thể như thế nào, do sợ N sẽ đánh người khác nên C đi theo N để ngăn cản. Khoảng 00 giờ ngày 16/3/2024 C đi theo N đón chờ K, lúc đứng chờ Cho hỏi chuyện thì N mới cho biết cụ thể việc K đang thiếu nợ tiền của N chưa trả nên N đón chờ. Khi gặp được K điều khiển xe mô tô Scoopy biển số 95E1-95359 chở Q thì N ra chặn đánh K, C đứng ra can ngăn nhưng không được, N yêu cầu K phải đưa chìa khóa xe Scoopy biển số 95E1-95359 cho N nhưng K không đồng ý nên tiếp tục bị N đánh. Thấy vậy Q lo sợ nên đến lấy chìa khóa xe Scoopy biển số 95E1-95359 đang đeo trên đỉa quần của K đưa cho N, Q có nói là xe này là của Q, N nhận chìa khóa rồi đưa cho H1 điều khiển xe của chị Q. N, H1, Cho cùng đi uống cà phê đến khoảng 02 giờ ra về, do N sợ đem xe về Hậu Giang sẽ bị Công an kiểm tra nên nhờ C đem xe mô tô Scoopy biển số 95E1-95359 về giữ giùm, Cho đem xe Scoopy biển số 95E1-95359 về để trước phòng trọ địa chỉ số B L, phường C, quận N, TP .. Đến chiều cùng ngày thì bị lực lượng Công an đến mời về làm rõ vụ việc.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2097 ngày 09/8/2024 trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Scoopy, biển số 95E1-953.59, màu trắng – đen - nâu, số khung MH1JM0217MK251097, số máy JM02E1251686 cho chị Nguyễn Phạm Thị Như Q, chị Q đã nhận lại xong.
Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng đen có nhiều ký tự số, chữ khác nhau trên mũ đã làm rõ là của bị cáo Mai Thanh N sử dụng nón bảo hiểm này đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Vũ Khương . Hiện đang tạm giữ chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự:
chị Nguyễn Vạn N1 (vợ bị can N) đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại số tiền 40.000.000 đồng (bồi thường cho Nguyễn Vũ K 37.500.000 đồng tiền khám, điều trị thương tích, số tiền 2.500.000 đồng sửa chữa xe cho Nguyễn Phạm Thị Như Q), anh K và chị Q không yêu cầu gì thêm.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ ban hành Cáo trạng số: 40/CT-VKSNK ngày 17 tháng 01 năm 2025 truy tố bị cáo Mai Thanh N về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Trương Hoài H1 về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đã nêu trong cáo trạng của Viện kiểm sát đối với các bị cáo. Phân tích nguyên nhân, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng và nhân thân của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
- + Đề nghị áp dụng Điểm đ khoản 2 Điều 134; Khoản 1 Điều 168; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Mai Thanh N tội cố ý gây thương tích mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; tội cướp tài sản mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Áp dụng Điều 55 tổng hợp hình phạt hai tội trên.
- + Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 168; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trương Hoài H1 tội cướp tài sản mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- + Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn C tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có đề nghị xử phạt từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả của bà Nguyễn Vạn N1.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, xin giảm nhẹ hình phạt.
- Các bị hại xác nhận đã nhận xong tiền bồi thường, không yêu cầu các bị cáo bồi thường bổ sung. Về trách nhiệm hình sự xin đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng các bị cáo và đương sự có liên quan không có ý kiến, khiếu nại. Nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Về nội dung vụ án và trách nhiệm hình sự:
Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận.
Vào Khoảng 21 giờ ngày 15/3/2024 Nhân từ thành phố N, tỉnh Hậu Giang đến quận N, TP . để tìm K đòi nợ, N rủ thêm Trương Hoài H1 đi cùng. Khi đến Cần Thơ thì N rủ bạn tên Trần Văn C uống nước. Do biết được K làm việc tại quán H3 thuộc đường N, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ nên khoảng 00 giờ ngày 16/3/2024 N chở H1 và C đến đón chờ sẵn K ở phía ngoài, gần quán, đến khoảng 01 giờ ngày 16/03/2024 thấy K điều khiển xe mô tô Scoopy màu trắng biển số 95E1-95359 chở bạn gái tên Nguyễn Phạm Như Q từ trong quán ra về thì N ra chặn xe dùng mũ bảo hiểm, dùng tay và chân đánh gây thương tích cho anh K. N yêu cầu K đưa chìa khóa xe mô tô Scoopy biển số 95E1-95359 nhưng K không đưa nên N tiếp tục dùng tay không đánh K, thấy K bị đánh Q lo sợ nên lấy chìa khóa xe mô tô Scoopy biển số 95E1-95359 đang đeo trên đỉa quần của K đưa cho N để N không đánh K nữa, N cầm chìa khóa xe đưa cho H1 điều khiển đi khỏi hiện trường. N, H1 và C tiếp tục đi uống cà phê đến khoảng 02 giờ thì ra về, do lúc này vào đêm khuya nên N sợ đem xe nhãn hiệu Scoopy, biển số 95E1-95359 về tỉnh Hậu Giang không có giấy tờ sẽ bị Công an kiểm tra nên N nhờ C đem xe này về nhà trọ giữ giùm; vụ việc xảy ra H1 biết đi theo N hỗ trợ tích cực và khi về trên đường về tỉnh Hậu Giang thì N cho H1 300.000 đồng; Cho cùng đi uống cà phê đến khoảng 02 giờ ra về, do N sợ đem xe về Hậu Giang sẽ bị Công an kiểm tra nên nhờ C đem xe mô tô Scoopy biển số 95E1-95359 về giữ giùm, Cho đem xe Scoopy biển số 95E1-95359 về để trước phòng trọ địa chỉ số B L, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
Theo Kết luận giám định số: 220/KLTTCT-TTPYCT ngày 06/5/2024 của Trung tâm pháp y Thành phố P1 kết luận đối với thương tích của anh Nguyễn Vũ K tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 20% (Hai mươi phần trăm).
Cơ chế hình thành vết thương phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên.
Kết luận định giá tài sản số: 737/KL-HĐĐG ngày 01/4/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận N kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Scoopy biển số 95E1-953.59, màu trắng đen nâu, số khung MH1JM0217MK251097, số máy JM02E1251686 trị giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, bị cáo Mai Thanh N cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự; bị cáo Trương Hoài H1 cấu thành tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Văn C cấu thành tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên cho thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng, xâm phạm sức khỏe công dân, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ, hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi dùng vũ lực, dùng hung khí nguy hiểm N trực tiếp dung nón bảo hiểm và tay đánh bị hại, là dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản là xe mô tô biển số 95E1- 953.59 của bị hại sau đó đưa cho H1 chạy đi và cả ba cùng uống cà phê rồi đưa xe cho bị cáo C, bị cáo C biết tài sản không thể đem về Hậu Giang nên đem cất giữ là đã vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc hành vi của bị cáo N và H1 là rất nguy hiểm cho xã hội cần cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục giúp các bị cáo thay đổi nhận thức, biết sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và qua hình phạt cũng để răn đe, trấn áp tội phạm tương tự.
Các bị cáo trong vụ án đều cố ý thực hiện hành vi phạm tội, việc phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, không phân công nhiệm vụ cụ thể. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để có hình phạt tương xứng.
Bị cáo Mai Thanh N là người khởi xướng trực tiếp việc tìm anh K để đòi tiền nợ, bị cáo rủ rê lôi kéo bị cáo H1 tham gia thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trực tiếp đánh bị hại, chiếm đoạt tài sản của bị hại sau đó đưa cho H1 chạy đi nên cần phải có mức hình phạt cao hơn bị cáo khác.
Bị cáo H1 biết được thông tin từ bị cáo N thì đã cùng đi tham gia cho N thực hiện hành vi phạm tội, tuy không trực tiếp gây thương tích cho bị hại nhưng vai trò đi cùng làm tê liệt ý chí bị hại, sau khi N lấy được xe H1 là người trực tiếp chạy xe mô tô đi và nhận tiền 300.000 đồng từ N nên xem xét hình phạt tương ứng hành vi của bị cáo.
Bị cáo Trần Văn C biết tài sản xe mô tô bị cáo N và H1 đem lại là tài sản lấy từ bị hại, không thể chuyển về Hậu Giang, bị cáo chấp nhận và đem xe về nơi ở của mình cất giấu là cấu thành tội phạm. Tuy nhiên bị cáo phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng Hội đồng xét xử thấy khồng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, nên áp dụng hình phạt tiền để xử lý bị cáo cho bị cáo nhận thức được hành vi và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
-
[3] Về tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo Mai Thanh N, Trương Hoài H1 và Trần Văn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo N và gia đình đã khắc phục hậu quả xong cho bị hại; các bị cáo có người thân gia đình thực hiện các chính sách tại địa phương, bị cáo C phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định bị cáo N được hưởng tình tiết điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo H1 và Cho được hưởng tình tiết điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình.
-
[4] Về tình tiết tăng nặng:
Không.
-
[5] Về trách nhiệm dân sự:
chị Nguyễn Vạn N1 (vợ bị cáo N) đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại số tiền 40.000.000 đồng (bồi thường cho Nguyễn Vũ K 37.500.000 đồng tiền khám, điều trị thương tích, số tiền 2.500.000 đồng sửa chữa xe cho Nguyễn Phạm Thị Như Q), anh K và chị Q không yêu cầu gì thêm, bà N1 và bị cáo N không yêu cầu bị cáo H1 và Cho trả lại tiền khắc phục hậu quả, thống nhất cùng trách nhiệm bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, nên không đặt ra xem xét.
-
[6] Về các vấn đề khác:
Không
-
[7] Về xử lý vật chứng:
- Ghi nhận Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2097 ngày 09/8/2024 trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Scoopy, biển số 95E1-953.59, màu trắng – đen - nâu, số khung MH1JM0217MK251097, số máy JM02E1251686 cho chị Nguyễn Phạm Thị Như Q, chị Q đã nhận lại xong. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng đen có nhiều ký tự số, chữ khác nhau trên mũ, đây là vật chứng bị cáo có dùng để đánh bị hại và đã qua sử dụng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
-
[8] Về án phí:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
1. Căn cứ áp dụng: Điều 17; Điểm đ khoản 2 Điều 134; Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- - Tuyên bố bị cáo Mai Thanh N phạm tội “Cố ý gây thương tích” và phạm tội “Cướp tài sản”;
- - Căn cứ áp dụng: Điều 17; Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Trương Hoài H1 phạm tội “Cướp tài sản”;
- - Căn cứ áp dụng: Điều 17; Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”;
- - Áp dụng đối với Mai Thanh Nhân Đ1 đ khoản 2 Điều 134; Khoản 1 Điều 168; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Mai Thanh N: Tội “Cố ý gây thương tích” 02 (Hai) năm tù; Tội “cướp tài sản” 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- + Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo Mai Thanh N phải chấp hành là 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù .
- Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày 26/7/2024.
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 168; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Trương Hoài H1:
- + Xử phạt bị cáo Trương Hoài H1: 03 (Ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”
- Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày 14/11/2024.
- - Áp dụng đối với Trần Văn C Khoản 1 Điều 323; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Trần Văn C: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
-
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng đen có nhiều ký tự số, chữ khác nhau trên mũ.
-
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tuyên án (06/03/2025) các bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thiên Bảo |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về vụ án hình sự
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Mai Thanh N 3 năm 6 tháng tù tội cướp tài sản và 2 năm tù tội cố ý gây thương tích
