Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST

Ngày 05 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kính
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Viết Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 411/2024/TLST-HS ngày 27tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52QĐXXST-HS ngày 20 tháng 022025, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu H; sinh năm 1999tại Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: 334/33/48 C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 10/12dân tộc: Kinh; giới tính: Namtôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T (chết) và bà Trần Thị Thu H1; có vợ và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Công ty Cổ phần M; địa chỉ trụ sở: 1 D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị Mai S, sinh năm 1974; địa chỉ: A (tầng A) Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (là Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần M). (vắng mặt)

Có ông Văn Khoa T1, sinh năm: 1977; địa chỉ: B B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh - là quản lý kho hàng số 18 của công ty Cổ phần M, làm đại diện theo giấy ủy quyền số 012-23/UQ/MS-CLC-LEG ngày 22/6/2023. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Vũ Hồng C, sinh năm 1981; địa chỉ: C V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, là Chủ Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ Thành Công; địa chỉ: C N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 8/2022, Nguyễn Hữu H xin vào làm việc tại Công ty Cổ phần M (gọi tắt là Công ty M1), địa chỉ số A D, Phường A, Quận H thì được Công ty nhận vào làm việc. Đến khoảng tháng 3/2023, H được công ty điều đến kho chứa hàng số 18 do công ty M1 thuê lại của công ty N, địa chỉ số A B, Phường G, Quận H làm nhiệm vụ đóng gói hàng hóa: quần áo, giày dép, ba lô, mũ. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong quá trình làm tại kho này, H nảy sinh ý định lấy trộm hàng hóa nêu trên để bán lấy tiền tiêu xài. Trong thời gian từ ngày 15/5/2023 đến ngày 27/5/2023, H thực hiện 07 lần lấy trộm hàng hóa tại kho này, cụ thể như sau:

  • + Lần thứ 1: Hào lấy trộm 01 túi 50BKS, F, Bks Black, 3ACRS042N, hiệu MLB (4.263.636 đồng); 01 nón, 50IV.S, F, Ivs ivority, 3ACP7701N, hiệu MLB (930.000 đồng) và 01 nón, 07BLL, F, L.Blue 07, 3ABN0212N, hiệu MLB (1.140.000 đồng), tổng: 6.333.636 đồng.
  • + Lần thứ 2: Hào lấy trộm 01 túi 50BKS, F, Bks Black, 3ACRS042N, hiệu MLB (4.263.636 đồng); 01 áo thun ngắn tay, 50NYL, S, L.Navy 50, 3ATSL0233, hiệu MLB (1.536.364 đồng) và 01 nón, 50BKS, 59H, Bks Black, 3AHTR013N, hiệu MLB (1.445.455 đồng), tổng: 7.245.455 đồng.
  • + Lần thứ 3: Hào lấy trộm 01 túi, 50BKS, F, Bks Black, 3AHSM012N, hiệu MLB (2.354.545 đồng) và 01 nón, 50NYD, S, D.Navy 50, 3ACBM013N, hiệu MLB (1.873.636 đồng), tổng: 4.228.181 đồng.
  • + Lần thứ 4: Hào lấy trộm 01 túi, 43BGL, F, L.Beige, 3ABQS012N, hiệu MLB (2.354.545 đồng) và 01 áo thun tay dài, 43BGS, S, S.Beige, 3AKPM0226, hiệu MLB (3.206.044 đồng), tổng: 5.560.589 đồng.
  • + Lần thứ 5: Hào lấy trộm 01 túi 50BKS, F, Bks Black, 3ACRS042N, hiệu MLB (4.263.636 đồng); 01 (một) nón, 50CRS, 57H, CREAM, 3AHTM013N, hiệu MLB (1.900.000 đồng) và 01 áo khoác bóng chày, 50BKS, S, Bks Black, 3QBSR0133, hiệu MLB (2.001.364 đồng), tổng: 8.165.000 đồng.
  • + Lần thứ 6: Hào lấy trộm 02 túi, 50NYD, F, D.Navy 50, 3ABQS023N, hiệu MLB (7.981.818 đồng) và 01 quần ngắn, 50BKS, XS, Bks Black, 3ASPB0233, hiệu MLB (1.494.015 đồng), tổng: 9.475.833 đồng.
  • + Lần thứ 7: H lấy lấy 01 túi, 50BKS, F, Bks Black, 3ACRS032N, hiệu MLB, tổng: 4.263.636 đồng.

Tổng tài sản H khai nhận đã lấy trộm của Công ty M1 là 17 sản phẩm. Khi hết giờ làm việc, H xếp nhỏ gọn các sản phẩm lấy trộm được nêu trên rồi bỏ vào trong áo khoác dài tay màu đen (áo khoác của H) đưa ra ngoài bỏ vào trong cốp xe mô tô hiệu Vision màu trắng biển số 50N1-137.82 (phương tiện H sử dụng đi làm), rồi đưa về nhà tại 2 N, phường P, quận T cất giấu.

Sau khi chiếm đoạt được các sản phẩm trên thì H đăng hình ảnh lên mạng xã hội Facebook để bán. H đã bán được 14 sản phẩm thu được 13.700.000 đồng (không rõ bán cho ai). Đến ngày 29/5/2023, H xin nghỉ việc tại Công ty M1. Đến ngày 21/6/2023, anh Văn Khoa T1 (là quản lý của kho hàng hàng số 18) gọi điện thông báo cho H biết Công ty M1 đã biết H lấy trộm hàng hóa tại kho chứa hàng trên và hẹn H có mặt tại kho chứa hàng để giải quyết. H thấy hành vi của mình đã bị lộ nên H cầm theo 01 mũ chất liệu vải len màu xanh có mã 07BLL hiệu MLB, 01 mũ chất liệu vải màu đen (dạng nón tai bèo) có mã 50BKS, 59H hiệu MLB, 01 áo sơ mi ngắn tay chất liệu vải màu đen (dạng áo bóng chày) có mã 50BKS hiệu MLB và số tiền 15.000.000 đồng bồi thường đưa lại cho anh T1, rồi anh T1 đưa H đến Công an P, Quận N - 8 trình báo. Tại đây, anh Văn Khoa T1 trình bày: vào ngày 14/6/2023, anh T1 được anh Lê Trung H2 (Tổ trưởng giám sát của kho hàng) cho biết khi Nguyễn Huỳnh Hoàng T2 (nhân viên giám sát kho hàng) kiểm kê hàng hóa tại kho hàng này thì phát hiện một số hàng hóa bị mất gồm: 05 (năm) nón hiệu MLB, 08 (tám) túi xách tay nữ hiệu MLB, 03 (ba) áo thun hiệu MLB, 03 (ba) quần hiệu MLB, 02 (hai) túi xách nữ hiệu PEDRO. Tổng 21 sản phẩm bị mất có giá trị khoảng 62.000.000 đồng nên anh H2 yêu cầu anh T2 kiểm tra lại camera của kho hàng thì phát hiện ngày 23/5/2023, Nguyễn Hữu H có biểu hiện giấu gì đó (nghi là hàng hóa của Công ty) trong áo khoác rồi mang ra ngoài nên anh H3 có kể lại vụ việc trên cho anh T1 biết nên anh T1 có đến kho để kiểm tra thì phát hiện số hàng hóa trên đã bị mất.

Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để làm rõ.

Nguyễn Hữu H thừa nhận hành vi lấy trộm 17 sản phẩm, không thừa nhận lấy 04 sản phẩm, gồm: 01 quần Jean denim mã 50SBL, L, 50L.Skyblue, 3LDPM0433 hiệu MLB, trị giá 2.990.909 đồng; 01 quần Jean denim mã 43CRS, S, S.Cream 43, 3FDPH0133 hiệu MLB, trị giá là 2.001.364 đồng; 02 túi nữ 34,01, B, PW2-75210134 hiệu MLB, tổng trị giá là 3.400.000 đồng.

Đối với 04 sản phẩm H không thừa nhận lấy trộm có tổng trị giá là 8.392.273 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản - UBNDQ8 ngày 13/9/2023, kết luận: Tổng giá trị 15 sản phẩm là 44.800.588 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 236/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản - UBNDQ8 ngày 27/12/2023, kết luận: Tổng 06 sản phẩm có giá trị là 8.864.015 đồng.

Như vậy, tổng tài sản chứng minh được Nguyễn Hữu H đã chiếm đoạt của Công ty M1 là 45.272.330 đồng.

Ngày 22/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

- Vật chứng vụ án:

  • + 01 xe mô tô biển số 50N1-137.82, số máy: JF58E0408667, số khung: QLHJF 5804EY522899. Qua xác minh được biết chủ xe là ông Lương H4, sinh năm 1974, địa chỉ số G đường Số A, Khu phố I, phường B, quận B. Qua làm việc, ông Lương H4 được biết vào năm 2016, ông H4 có đứng tên chiếc xe trên, mua với giá khoảng 35.000.000 đồng, ông H4 cho con gái làm phương tiện đi học. Ngày 13/12/2021, ông H4 cùng vợ ra Văn phòng công chúng Tân Phú làm hợp đồng ủy quyền bán chiếc xe trên cho anh Đoàn Quốc H5 với giá khoảng 21.000.000 đồng và giao giấy đăng ký xe máy số 037336 cho anh H5. Qua làm việc, anh Đoàn Quốc H5 được biết vì là người buôn bán xe máy nên sau khi mua chiếc xe trên đã đăng bán ở mạng xã hội Chợ Tốt. Ngày 15/12/2021, anh H5 đã làm Hợp đồng ủy quyền lại cho Nguyễn Hữu H chiếc xe trên với giá 26.000.000 đồng tại Văn phòng C1 L, phường B, quận T và giao giấy đăng ký xe máy số 037336 cho H. H đã mua chiếc xe trên của anh Đoàn Quốc H5 sau đó sử dụng làm phương tiện đi lại. Vào tháng 6/2023, H đã cầm cố xe trên ở tiệm C2 số C N, phường P, quận T với giá 10.000.000 đồng, chủ tiệm là ông Vũ Hồng C. Ông Vũ Hồng C cho biết ngày 19/6/2023, có 01 nam thanh niên đem xe trên đến tiệm cầm cố, có đưa 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Hữu H6, 01 giấy đăng ký xe máy số 037336, 01 hợp đồng ủy quyền giữa ông H4 và anh H5, và 01 hợp đồng ủy quyền lại giữa anh H5 và H nên ông C đồng ý cầm cố xe cho H và có viết giấy cầm đồ, thời hạn 30 ngày, Công an Q đã thu hồi xe trên.
  • + 01 áo khoác nền đen, tay áo màu kem, cổ áo và tay áo nền đen sọc trắng, lưng áo và ngực trái có thêu họa tiết “CMR” (H sử dụng đem sản phẩm trộm ra về).
  • + 01 một điện thoại di động Iphone 12, số máy: MGFM3LL/A, số seri DNPDL7C 40DXQ, số IMEI 353044115246838, H sử dụng chụp hình các sản phẩm đăng bán trên bán mạng xã hội.
  • + 01 (một) nón len, màu xanh có thêu nhãn MLB; 01 (một) nón vải, màu đen, có thêu nhãn MLB; 01 (một) áo thun, màu đen, có thêu nhãn MLB. Ngày 26/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh Văn Khoa T1.

Dữ liệu điện tử thu giữ: 01 USB màu đen của anh Văn Khoa T1 giao nộp, có chứa dữ liệu hình ảnh vụ trộm cắp tài sản do bị cáo thực hiện.

Về trách nhiệm dân sự:

  • + Công ty Cổ phần M đã nhận được số tiền bồi thường thiệt hại 52.814.067 đồng từ Nguyễn Hữu H. Công ty Cổ phần M có đơn xin bãi nại, đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Hữu H.
  • + Ông Vũ Hồng C yêu cầu nếu được thì ông xin nhận lại xe 01 xe mô tô biển số 50NI-137,82 đã nhận cầm cố của bị cáo H, trường hợp không nhận được xe thì ông yêu cầu bị cáo H trả lại ông số tiền đã cầm xe là 10.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-Q8 ngày 27/12/2024Viện kiểm sát nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị Nguyễn Hữu H về tội “Trộm cắp tài sảntheo khoản 1 Điều 173Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Trộm cắp tài sảnSau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu của 01 xe mô tô biển số 50N1-137.82 trong thời hạn 01 năm, nếu hết thời hạn trên mà không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ nhà nước; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 một điện thoại di động Iphone 12 tạm giữ của H do có liên quan đến hành vi phạm tội; đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác nền đen, tay áo màu kem, cổ áo và tay áo nền đen sọc trắng, lưng áo và ngực trái có thêu họa tiết “CMR” là trang phục Hào bận khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại Công ty M1 đã nhận được số tiền bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Hồng C yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền đã nhận cầm cố xe nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo hoàn trả cho ông C số tiền này.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 15/5/2023 đến ngày 27/5/2023, Nguyễn Hữu H đã 07 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại kho chứa hàng của Công ty M1 (thuê lại của Công ty N, địa chỉ số A B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), tổng cộng H đã trộm 17 sản phẩm với tổng giá trị tài sản là 45.272.330 đồng.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Bị cáo đã thực hiện 07 lần hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, trị giá các tài sản đều trên 2.000.000 đồng và đều chưa bị xử lý. Như vậy, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi 1 phần trả lại cho bị hại và đã bồi thường phần tài sản không thu hồi được; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[7] Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận.

[8] Xét quá trình điều tra, bị cáo bỏ trốn và sau đó bị bắt theo quyết định truy nã đã gây khó khăn cho việc điều tra vụ án nên Hội đồng xét xử cũng lưu ý khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[9] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[11] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 xe mô tô biển số 50N1-137. 82, số máy: JF58E0408667, số khung: QLHJF 5804EY522899 qua xác minh do bị cáo mua lại bằng hình thức Hợp đồng ủy quyền có công chứng nhưng chưa làm thủ tục sang tên, bị cáo dùng cất giấu và vận chuyển tài sản trộm cắp. Do chưa đủ cơ sở xác định chủ sở hữu của chiếc xe nên cần tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu của xe trên trong thời hạn 01 năm, nếu hết thời hạn trên mà không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 một điện thoại di động Iphone 12, số máy: MGFM3LL/A, số seri DNPDL 7C40DXQ, số IMEI 353044115246838 thu giữ của bị cáo H, bị cáo có sử dụng chụp hình các sản phẩm trộm cắp và đăng bán trên bán mạng xã hội nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 01 áo khoác nền đen, tay áo màu kem, cổ áo và tay áo nền đen sọc trắng, lưng áo và ngực trái có thêu họa tiết “CMR” bị cáo H bận khi thực hiện hành vi trộm cắp nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

[11] Xét yêu cầu nhận lại xe máy 01 xe mô tô biển số 50N1-137.82 của ông Vũ Hồng C, Hội đồng xét xử nhận thấy: xe này do bị cáo mua lại bằng hình thức Hợp đồng ủy quyền có công chứng nhưng chưa làm thủ tục sang tên và có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử tuyên đăng tin tìm chủ sở hữu, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ nhà nước.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị hại Công ty M1 đã nhận đủ bồi thường và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Ông Vũ Hồng C yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển số 50N1-137.82, bị cáo có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông C số tiền này. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý hoàn trả lại tiền cho ông C số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo hoàn trả cho ông Vũ Hồng C số tiền 10.000.000 đồng.

[11] Dữ liệu điện tử: 01 USB màu đen của Công ty M1 giao nộp chứa đựng hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp của bị cáo. Xét đây là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[13] Qua điều tra xác định, khi nhận cầm chiếc xe biển số 50N1-137.82 từ bị cáo, ông Vũ Hồng C không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, đồng thời ông T3 cũng đã tự nguyện giao nộp lại xe trên. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

[14] Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 23 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2024.
  • - Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H hoàn trả cho ông Vũ Hồng C số tiền 10.000.000 đồng. Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền bồi thường thiệt hại về tài sản theo mức nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
  • - Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tiếp tục tạm giữ và đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) 01 xe mô tô biển số 50N1-137.82, số máy: JF58E0408667, số khung: QLHJF5804EY522899 trong thời hạn 01 năm, nếu hết thời hạn trên mà không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước; 01 một điện thoại di động Iphone 12, số máy: MGFM3LL/A, số seri DNPDL7C40DXQ, số IMEI 353044115246838.
  • Tich thu tiêu hủy: 01 áo khoác nền đen, tay áo màu kem, cổ áo và tay áo nền đen sọc trắng, lưng áo và ngực trái có thêu họa tiết “CMR” (H sử dụng đem sản phẩm trộm ra về).

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/12/2024).

  • - Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quận 8;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - CQ CSĐT CA TP. HCM;
  • - CQ THA HS CA TP. HCM;
  • - Phân trại tạm giam Khu vực
  • Quận 8 - Trại tạm giam Chí Hòa;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - PV06;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 42/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 15/5/2023 đến ngày 27/5/2023, Nguyễn Hữu Hào đã 07 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại kho chứa hàng của Công ty Maison (thuê lại của Công ty nhôm Kim Hằng, địa chỉ số 1 Ba Tơ, Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh), tổng cộng Hào đã trộm 17 sản phẩm với tổng giá trị tài sản là 45.272.330 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger