Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/3/2025.

Về việc: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Công Danh

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia

phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2375/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXX-ST ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ E, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1995.

Địa chỉ: khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H và ông D cùng có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà Lý Thị H, trình bày:

Bà H và ông Nguyễn Văn D tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 212/2020 ngày 30/11/2020). Quá trình chung

1

sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau thường xuyên ra mâu thuẫn, cả hai đã cố gắng khắc phục để tiếp tục chung sống nhưng mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hoà hợp. Nay bà H nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông D.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tuệ A, sinh ngày 30/04/2021 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/10/2023.

Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung. Bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo nội dung bản tự khai ngày 13/01/2025, ông Nguyễn Văn D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn, chung sống vợ chồng đúng như bà H trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau có xảy ra mâu thuẫn cơ bản trong các gia đình. Tuy nhiên, ông không muốn ly hôn và muốn hàn gắn gia đình vì muốn cho các con có gia đình hoàn chỉnh. Do đó, ông không đồng ý ly hôn với bà H.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tuệ A, sinh ngày 30/04/2021 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/10/2023. Trường hợp, Toà án giải quyết ly hôn thì ông D đồng ý giao 02 con chung cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng và tạm thời ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng.
  • + Việc tuân theo pháp luật của các bên đương sự: Thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật tố tụng dân sự quy định.
  • + Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Lý Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: bà Lý Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Nguyễn Tuệ A, sinh ngày 30/04/2021 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/10/2023 cho bà H trực tiếp chăm

2

sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, bà H không yêu cầu, nên tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền:

Bà Lý Thị H xin ly hôn với ông Nguyễn Văn D, địa chỉ nơi cư trú tại: Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa có thẩm quyền giải quyết.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bà Lý Thị H và ông Nguyễn Văn D đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lý Thị H và ông Nguyễn Văn D tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 212/2020 ngày 30/11/2020). Căn Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, bà H nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông D là do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do chung sống không hạnh phúc; ông D cũng xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gia đầu, nhưng về sau có xảy ra mâu thuẫn cơ bản trong gia đình. Qua xác minh tại địa phương nơi cư trú của vợ chồng bà H, ông D mặc dù địa phương không nắm rõ mâu thuẫn của vợ chồng do không có đơn trình báo, nhưng qua lời khai của bà H, ông D trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, bà H và ông D đều xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và sự thật bà H xác định tình cảm vợ chồng đã không còn và không thể hàn gắn đoàn tụ, nên bà H xin được ly hôn với ông D. Vì vậy, có căn cứ xác định nguyên nhân và lý do bà H yêu cầu được ly hôn với ông D theo như bà đã trình bày là có cơ sở. Từ đó cho thấy mâu thuẩn vợ chồng của bà H và ông D đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, giải quyết cho bà H được ly hôn với ông D.

3

[4] Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tuệ A, sinh ngày 30/04/2021 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/10/2023.

Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung. Ông D đồng ý giao 02 con chung cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng nếu trường hợp Toà án giải quyết ly hôn. Do vậy, chấp nhận giao 02 con chung là Nguyễn Tuệ A và Nguyễn Minh T cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà H không yêu cầu, nên tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật quy định.

[5] Về tài sản chung: bà H và ông D tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết

[6] Về nợ chung: bà H và ông D xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bà Lý Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 266, 271, 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 9; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của bà bà Lý Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Lý Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

4

2. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tuệ A, sinh ngày 30/04/2021 và Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/10/2023.

Ly hôn, giao 02 con chung Nguyễn Tuệ A và Nguyễn Minh T cho bà Lý Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Tạm thời ông Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Văn D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà Lý Thị H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung: bà H và ông D tự thoả thuận.

4. Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Bà Lý Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, theo biên lai thu số 0004135 ngày 10/10/2024.

6. Bà bà Lý Thị H và ông Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND TP Biên Hòa (1);
  • - THADS TP Biên Hòa (1);
  • - UBND phường Tam Phước, thành phố
  • Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Đương sự (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1);
  • - Lưu VP (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Hùng

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trần Văn Chánh Thiều Thị Phi Loan

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Hùng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn

  • Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của bà bà Lý Thị Hương. 1. Về quan hệ hôn nhân: bà Lý Thị Hương được ly hôn với ông Nguyễn Văn Dũng. 2. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tuệ An, sinh ngày 30/04/2021 và Nguyễn Minh Tú, sinh ngày 03/10/2023. Ly hôn, giao 02 con chung Nguyễn Tuệ An và Nguyễn Minh Tú cho bà Lý Thị Hương trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm thời ông Nguyễn Văn Dũng không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Nguyễn Văn Dũng không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà Lý Thị Hương trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật quy định. 3. Về tài sản chung: bà Hương và ông Dũng tự thoả thuận. 4. Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết. 5. Về án phí: Bà Lý Thị Hương phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, theo biên lai thu số 0004135 ngày 10/10/2024. 6. Bà bà Lý Thị Hương và ông Nguyễn Văn Dũng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger