TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 42/2025/HSPT Ngày 27 - 02 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Tuấn
- - Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thu Hường, bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo Lâm Tấn Đ và Phạm Trung T, do có kháng cáo của các bị cáo, đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2024/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo kháng cáo:
- Họ và tên: Lâm Tấn Đ, sinh năm 1992, nơi sinh: tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Buôn B, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 10/12; tiền án, tiền sự: Không. Con ông Lâm S (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1994 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023.
- Họ và tên: Phạm Trung T, sinh năm 1994, nơi sinh: tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Buôn B, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; tiền án - Tiền sự: Không. Con ông Phạm Thanh C (đã chết) và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1951. Bị cáo có vợ là Tạ Thị Thanh H1, sinh năm 1994 và có một người con sinh năm 2021.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/10/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 12/3/2023, Phạm Trung T và Lâm Tấn Đ uống bia tại quán M thuộc thôn Đ, xã C, huyện K, đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì nghỉ; T điều khiển xe mô tô biển số 47K1-244.71 chở theo Đ đi về nhà theo hướng thôn Đ, xã C đi buôn B, xã C. Khi đến đoạn trước Trường THCS C1 (thôn Đ, xã C) thì T dừng xe để đi vệ sinh, lúc này Đ thấy xe ô tô tải biển số 51C-837.08 chạy cùng chiều từ phía sau tới, do anh Nguyễn Tấn T2 điều khiển chở theo chị Hoàng T3 và hàng hóa là quả dứa, thấy vậy Đ đứng ra đường bê tông (cách mép bê tông khoảng 1,5m), giơ ngang hai tay, mặt quay về phía xe ô tô nhằm mục đích chặn xe ô tô lại nhưng anh T2 đã điều khiển xe ô tô tránh sang một bên và tiếp tục điều khiển ô tô đi. T nói với Đ: “hình như xe chị T3”, Đ nói: “làm gì phải”, T nói: “độ gì”, Đ nói: “đuổi theo xem thử” nên T điều khiển xe mô tô chở Đ đuổi theo xe ô tô trên đến đoạn gần cầu B, xã C thì T điều khiển xe vượt qua chặn được xe ô tô lại. Sau đó, Đ xuống xe đi đến chỗ đầu xe ô tô rồi có lời nói thách thức với anh T2, nghe vậy anh T2 xuống khỏi ca bin xe ô tô thì giữa Đ với anh T2 xảy ra cãi nhau, Đ dùng tay đánh anh T2, anh T2 cũng dùng tay đánh lại Đ, T nhìn thấy đánh nhau nên cầm mũ bảo hiểm chạy đến đánh trúng vào vùng trán phải của anh T2 gây thương tích; bị đánh nên anh T2 bỏ chạy thì T tiếp tục đuổi đánh anh T2 tiếp thì bị anh T2 đấm ngã xuống đất, Đ thấy vậy thì chạy đến xô đẩy anh T2 ra làm Đ và anh T2 đều ngã xuống ruộng lúa nước. T cầm mũ bảo hiểm chạy xuống ruộng thì nhìn thấy anh T2 đang ngồi đè lên người Đ nên T đã dùng mũ bảo hiểm đánh vào phía sau đầu và người anh T2 đến khi mũ bảo hiểm bị vỡ thì T vứt mũ bảo hiểm rồi dùng tay phải choàng qua mặt để kéo T2 ra khỏi người Đ thì bị anh T2 cắn vào ngón tay của T, T và Đ dùng tay đấm vào mặt anh T2, Đ nói: "nhận nước cho nó chết" thì anh T2 nhả tay Thành ra, sau đó T và Đ đi về nhà Đ để tắm rửa, tại đây Đ nói với T là đừng khai với cơ quan Công an việc Đ chặn xe ô tô của anh T2 tại trường Trung học cơ sở C1 và cũng đừng khai việc Đ nói “nhận nước cho nó chết”. Anh T2 được đưa đi điều trị thương tích tại Trung tâm y tế huyện K, chị T3 trình báo vụ việc với Công an xã C rồi điều khiển xe ô tô biển số 51C-837.08 chở số dứa trên về nhà, sau đó số dứa bị hư hỏng nên chị T3 thuê người đổ bỏ toàn bộ số dứa trên xe.
- Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 65/KLTTCT-PY ngày 28/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận đối với tỷ lệ phần trăm thương tích của Nguyễn Tấn T2 là 4%, cụ thể như sau:
- Sẹo ở giữa vùng trán phải, bờ gọn, không dính da xung quanh sẹo, kích thước (0,7 x 0,2)cm, tỷ lệ: 3% (Mục I.3, Nguyên tắc 2 Chương 8).
- Vết biến đổi sắc tố da xung quanh sẹo vùng trán phải, kích thước (1,2 x 0,5)cm, tỷ lệ: 1% (Mục V, chương 8).
Vật tác động: Vật tày, cứng có cạnh.
Cơ chế hình thành thương tích: Trầy xước trán phải để lại sẹo và vết biến đổi sắc tố da xung quanh, vị trí bờ trên, đầu trong cung mày phải là do tác động trực tiếp của V tày, cứng có cạnh từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2024/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:
Căn cứ Điều 134 Bộ luật hình sự; Điều 260 và Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố các bị cáo Lâm Tấn Đ và Phạm Trung T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
[1] Về hình phạt: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lâm Tấn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Phạm Trung T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Các ngày 26, 27/11/2024, bị cáo Phạm Trung T và Lâm Tấn Đ có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không áp dụng tình tiết định khung có tính chất côn đồ và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lâm Tấn Đ và bị cáo Phạm Trung T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2024/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo không tranh luận gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét lời khai của bị cáo Phạm Trung T và Lâm Tấn Đ tại phiên toà phúc thẩm, là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm; phù hợp với lời khai của người bị hại và lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả giám định pháp y và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[2] Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 12/3/2023, tại khu vực đường gần cầu B, xã C, huyện K, Lâm Tấn Đ và Phạm Trung T đã vô cớ chặn xe ô tô tải biển số 51C-837.08 do anh Nguyễn Tấn T2 điều khiển. Sau khi xe ô tô do anh T2 điều khiển dừng lại thì Đ dùng tay, T dùng mũ bảo hiểm đánh anh T2 gây thương tích 04%. Ngày 11/5/2023, anh Nguyễn Tấn T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can để xử lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Lâm Tấn Đ và Phạm Trung T, phạm tội Cố ý gây thương tích theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng với quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:
[3.1] Đối với kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không áp dụng tình tiết định khung có tính chất côn đồ, xét thấy: Mặc dù giữa các bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì, nhưng bị cáo Đ đã có hành vi chặn xe ô tô tải do anh Nguyễn Tấn T2 điều khiển đang lưu thông trên đường, do xe tải không dừng lại mà tránh qua để đi tiếp nên các bị cáo dùng xe mô tô đuổi theo và dùng xe máy chặn đầu xe tải. Sau khi xe tải dừng lại, bị cáo Đ đã có lời nói thách thức và đe dọa anh T2 “mày qua Đ, ta giết”, anh T2 xuống xe thì giữa bị cáo Đ và anh T2 xảy ra cãi nhau, bị cáo Đ dùng tay đánh anh T2 và anh T2 cũng dùng tay đánh bị cáo Đ, sau đó bị cáo T dùng mũ bảo hiểm đánh vào vùng trán của anh T2, anh T2 bỏ chạy bị cáo T tiếp tục cầm mũ bảo hiểm đuổi theo đánh, anh T2 quay lại dùng tay đánh trúng vào người làm bị cáo T ngã xuống đất, sau đó bị cáo Đ chạy đến xô anh T2 khiến cả hai cùng ngã xuống ruộng lúa nước, anh T2 đè lên người bị cáo Đ, bị cáo T tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đánh nhiều cái vào người anh T2 làm mũ bảo hiểm bị vỡ. Bị cáo T dùng tay kéo anh T2 ra thì bị anh T2 cắn vào ngón tay, thấy vậy các bị cáo dùng tay đánh đấm nhiều cái vào mặt anh T2, sau đó anh T2 nhả ngón tay của bị cáo Thành ra thì các bị cáo không đánh nữa mà chấm dứt hành vi phạm tội. Hậu quả anh T2 bị thương tích 04%. Như vậy, hành vi của các bị cáo là vô cớ đánh bị hại, hành vi đánh bị hại của các bị cáo diễn ra liên tục, quyết liệt do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3.2] Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo, xét thấy: Căn cứ khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo quy định những trường hợp không cho hưởng án treo thì các bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ đến các tình tiết giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo và xử phạt các bị cáo 06 tháng tù là phù hợp.
Từ những phân tích và nhận định trên xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Lâm Tấn Đ và Phạm Trung T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lâm Tấn Đ và Phạm Trung T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lâm Tấn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Phạm Trung T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
[3] Về án phí: Các bị cáo Lâm Tấn Đ và Phạm Trung T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Duy Tuấn |
Bản án số 42/2025/HSPT ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 42/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Tấn Đ và đồng phạm
