|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày 21-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Phan Văn Cường;
- 2/ Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên toà:
Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 21 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường A trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 377/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 15/2025/HSST-QĐ ngày 24/01/2025 đối với bị cáo.
Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1984 tại thành phố Cần Thơ; thường trú: ấp P, thị trấn T, huyện V, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; tôn giáo: Hòa Hảo; con ông Nguyễn Văn G (đã chết) và bà Phan Thị L (đã chết); bị cáo có 06 anh, chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1982); chồng tên Vũ Văn H, sinh năm: 1986; bị cáo có 02 con, (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024 đến ngày 09/10/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh, bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2025 đến ngày 18/02/2025. (Có mặt).
- Bị hại:
Công ty Cổ phần S (Công ty S1); địa chỉ: A N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hải N, sinh năm 1978; địa chỉ: A N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh- là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 22/11/2023) (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Vũ Văn H, sinh năm 1986; địa chỉ: Số A N, tổ C, khu phố T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
- Ông Huỳnh Quốc C, sinh năm 1989; địa chỉ: Số I N, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Ông Đinh Quang H1, sinh năm 1979; địa chỉ: Căn hộ S Chung cư C, số C đường Đ, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
- Bà Đỗ Mộng Diễm H2, sinh năm 1981; địa chỉ: Số F B, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Căn hộ SA-30-11 Chung cư C, số C đường Đ, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
- Bà Cao Thị Thanh T, sinh năm 1982; địa chỉ: Căn hộ S-13 Chung cư C, số C đường Đ, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Kim H3, sinh năm 1964; địa chỉ: Căn hộ R-08 Chung cư C, số C đường Đ, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
- Bà Lê Thị H4, sinh năm 1986; địa chỉ: Số A đường Đ, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991; thường trú: Căn hộ B Chung cư B, đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt).
- Bà Phan Thị Thùy L1, sinh năm 2000; địa chỉ: Số B, đường D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/9/2020, Nguyễn Thị Ngọc M và Công ty Cổ phần S (gọi tắt là Công ty S1 ký hợp đồng lao động số 184/HDLD-SVT.2020 có thời hạn từ ngày 30/9/2020 đến hết ngày 30/9/2021 với chức danh là nhân viên kế toán. Đến ngày 01/10/2021 hai bên tiếp tục ký tiếp hợp đồng lao động số 162/HDLD-SVT.2021 có thời hạn từ ngày 01/10/2021 đến hết ngày 30/9/2024 với chức danh là nhân viên kế toán. Ngày 23/5/2022, M được Công ty S1 điều chuyển đến làm việc tại dự án C tọa lạc số C đường Đ, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương với công việc là nhân viên kế toán, kiêm thủ quỹ thực hiện các khoản thu của dự án như thu phí quản lý, thu phí giữ xe, tiền ký quỹ thi công các căn hộ tại dự án, tiền ký quỹ thẻ từ thang máy từ các nhà thầu.......và chi trả các nguồn theo quy định. Trong khoảng thời gian làm việc tại dự án từ tháng 06/2022 đến tháng 09/2023 Nguyễn Thị Ngọc M đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trách nhiệm được giao quản lý tài sản là tiền mặt để thực hiện các hành vi, thủ đoạn lập khống phiếu chi, báo cáo sai sự thật các nguồn thu, chi nhằm chiếm đoạt số tiền 176.235.813 đồng, cụ thể như sau:
- Đối với số tiền mặt 85.735.813 đồng chiếm đoạt từ các nguồn phí giữ xe, phí quản lý: Số dư tiền mặt đầu tháng 01/2023 là 60.303.209 đồng, tổng thực thu tháng 01/2023 là 147.595.895 đồng, tổng thực chi tháng 01/2023 là 153.044.789 đồng. M đã lập 07 phiếu chi tiền mặt với tổng số tiền là 94.882.789 đồng để chuyển nộp vào tài khoản của Công ty S1 mở tại Ngân hàng V, số chi còn lại là 58.162.000 đồng được chi cho các hoạt động khác tại dự án. Như vậy, tiền mặt còn lại cuối kỳ tại dự án nếu chi đúng là 54.854.315 đồng. Tuy nhiên thực tế M chỉ thực hiện 05 lần chuyển tiền vào tài khoản của công ty với tổng số tiền là 49.882.789 đồng (số tiền nộp đúng là 94.882.789 đồng), số tiền 45.000.000 còn lại được M chiếm đoạt bằng cách lập hai phiếu thu số: TCK0064/01 ngày 11/01/2023 với số tiền 25.000.000 đồng, TCK0229/01 ngày 18/01/2023 với số tiền 20.000.000 đồng để hoạch toán số tiền đã chuyển vào tài khoản ngân hàng Công ty và được khai báo trên phần mềm quản lý ERP của Công ty thể hiện đã lập 07 phiếu chi cho đúng với số tiền đã chi. Do số tiền 45.000.000 đồng M không nộp cho Công ty nên số dư tiền mặt tồn quỹ cuối tháng 01/2023 là 99.854.315 đồng.
Số dư tiền mặt đầu tháng 06/2023 là 147.068.928 đồng, tổng thực thu tháng 06/2023 là 290.294.673 đồng, tổng thực chi tháng 06/2023 là 276.744.000 đồng, trong đó M lập 03 phiếu chi tiền mặt với tổng số tiền là 160.000.000 đồng để chuyển nộp vào tài khoản của Công ty S1 mở tại Ngân hàng V, số chi còn lại là 116.744.000 đồng được chi cho các hoạt động khác tại dự án. Như vậy, tiền mặt còn lại cuối kỳ tại dự án nếu chi đúng là 160.619.601 đồng. Tuy nhiên thực tế M chỉ thực hiện 03 lần chuyển tiền vào tài khoản của công ty với tổng số tiền là 115.000.000 đồng, số tiền còn lại là 45.000.000 đồng M không chuyển. Do số tiền 45.000.000 đồng mà M không nộp cho Công ty nên số dư tiền mặt tồn quỹ cuối tháng 06/2023 là 250.619.601 đồng.
Cuối tháng 9/2023 tồn quỹ tiền mặt dự án là 28.068.370 đồng. Tuy nhiên thực tế quỹ tiền mặt tính đến cuối tháng 9/2023 là 118.068.370 đồng (bao gồm 90.000.000 đồng M chiếm đoạt trong tháng 01, 06/2023). Ngày 22/9/2023 M chuyển trả tiền chiếm đoạt bằng cách nộp 20.000.000 đồng thông qua tài khoản Công ty nên số tiền còn lại M chiếm đoạt là 70.000.000 đồng. Như vậy, tiền mặt quỹ tồn của tháng 9/2023 là 98.068.370 đồng.
Cuối tháng 10/2023 thì tồn quỹ tiền mặt dự án là 33.703.813 đồng, tuy nhiên thực tế quỹ tiền mặt tính đến cuối tháng 10/2023 là 103.703.813 đồng (bao gồm 70.000.000 đồng M đã chiếm đoạt). Ngày 10, 28/10/2023 M chuyển trả tiếp số tiền chiếm đoạt bằng cách nộp 10.000.000 đồng thông qua tài khoản Công ty nên số tiền còn lại M chiếm đoạt là 60.000.000 đồng, do vậy tiền mặt quỹ tồn của tháng 10/2023 là 93.703.813 đồng. Sau khi M nghỉ việc, Công ty kiểm tra thực tế tiền mặt quỹ tồn còn để trong két sắt tại dự án là 7.968.000 đồng nên tiền mặt quỹ từ nguồn thu trên đã bị M chiếm đoạt là 85.735.813 đồng.
- Đối với số tiền 10.000.000 đồng chênh lệch quỹ tiền mặt được Mai hoạch toán hoàn ký quỹ thi công: Ngày 03/11/2023, kế toán dự án tại văn phòng rà soát lại tồn quỹ tiền mặt trên hệ thống ERP và sao kê tài khoản ngân hàng thì phát hiện phiếu chi hoàn ký quỹ CKQ0018109 cho chủ căn hộ RB24.11 với số tiền 10.000.000 đồng chi chuyển khoản nhưng kế toán ban quản lý hoạch toán nhầm nguồn chi này chi từ quỹ tiền mặt của dự án, dẫn đến sổ quỹ tiền mặt của dự án giảm còn 93.703.813 đồng, số thực đúng phải là 103.703.813 đồng. Do vậy số tiền 10.000.000 đồng nêu trên cũng bị M chiếm đoạt.
- Đối với số tiền mặt 17.000.000 đồng bị chiếm đoạt từ nguồn thu thẻ thang máy: Quá trình điều tra xác định từ ngày 14/01/2022 đến ngày 28/10/2022 có 14 nhà thầu ký quỹ để thuê 31 thẻ với số tiền M đã thu là 31.000.000 đồng nhưng không lập phiếu thu tự động trên hệ thống phần mềm ERP của công ty để in ra giao cho nhà thầu mà tự lập phiếu thu từ W, dẫn đến trên hệ thống phần mềm ERP không có khoản thu này. Trong khoảng thời gian từ ngày 14/6/2022 đến ngày 28/12/2022 thì M đã tự ý hoàn ký quỹ đối với 14 thẻ với số tiền 14.000.000 đồng, số tiền còn lại là 17.000.000 đồng chưa được M hoàn ký quỹ cho các nhà thầu mà chiếm đoạt sử dụng.
- Đối với số tiền mặt 63.500.000 đồng bị chiếm đoạt từ nguồn thu ký quỹ thi công các căn hộ: Quá trình điều tra xác định từ ngày 07/03/2022 đến ngày 22/9/2023 có 12 nhà thầu ký quỹ để thi công 12 căn hộ với số tiền M đã thu là 63.500.000 đồng nhưng không lập phiếu thu tự động trên hệ thống phần mềm quản lý ERP của công ty để in ra giao cho nhà thầu mà tự lập phiếu thu từ W, dẫn đến trên hệ thống phần mềm ERP không có khoản thu này. Số tiền trên được nhiều người thu sau đó đưa cho M quản lý rồi chiếm đoạt sử dụng.
Như vậy tổng số tiền M chiếm đoạt của Công ty S1 là 176.235.813 đồng.
Ngày 24 tháng 11 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương tiếp nhận đơn tố giác về tội phạm của Công ty S1 với nội dung tố cáo Nguyễn Thị Ngọc M đã có hành vi chiếm đoạt số tiền 176.235.813 đồng từ các nguồn thu của dự án trong khoảng thời gian làm việc tại dự án từ tháng 06/2022. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Tham ô tài sản”. Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Ngọc M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 373/CT-VKS - DA ngày 05/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M mức hình phạt từ 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại Công ty S1 số tiền chiếm đoạt 176.235.813 đồng. Tại phiên tòa đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Nguyễn Thị Ngọc M được Công ty S1 ký hợp đồng làm việc với vị trí kế toán. Ngày 23/5/2022, M được Công ty S1 điều chuyển đến làm việc tại dự án C tọa lạc tại 30 đường Đ, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương với công việc là nhân viên kế toán, kiêm thủ quỹ. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Ngọc M đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản với số tiền 176.235.813 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” và “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Do đó, cáo trạng số 373/CT-VKS ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản bị hại. Về ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức rõ hành vi tham ô tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo nhận tội, ăn năn hối cải, bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt để trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết trên được quy định điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Hình phạt chính: Xét, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M phạm tội rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt 176.235.813 đồng. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, trách nhiệm dân sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M phạm tội “Tham ô tài sản”.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2025, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 03/6/2024 đến ngày 09/10/2024.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
3. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tham ô tài sản (hình sự)
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc M
