|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày: 19/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh
Bà Vũ Thị Minh Hà
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST- HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST - HS ngày 09/01/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/HPT-QĐ, ngày 20/01/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đặng Kim T; Sinh năm: 1998; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Không xác định; Nơi ở hiện tại: Số A L, phường L, quận H, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Đảng phái, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông: Đặng Kim L- Sinh năm 1963 (đã chết); Con bà: Trần Thị H - Sinh năm 1957; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự: Không
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 118/HSST ngày 29/7/2019, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt Đặng Kim T 06 tháng tù, về tội “Giữ người trái pháp luật”, 48 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt cả 02 tội là 54 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2023
Bị can bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T3. (Có mặt tại phiên toà)
2. Họ và tên: Nguyễn Công S; Sinh năm: 1984; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: số B tổ D ngõ A Q, tổ dân phố G, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số C N, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Đảng phái, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Công H1- Sinh năm 1957 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị K - Sinh năm 1963; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 159/HSST ngày 19/9/2018, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Công S 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/02/2024.
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 29/HSST ngày 01/02/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Công S 12 tháng tù, được trừ 65 ngày tạm giữ, tạm giam. S còn phải chấp hành 09 tháng 25 ngày tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 19 tháng 20 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 319/HSST ngày 27/6/2008, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Công S 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng 25 ngày tù tại Bản án số 29 ngày 01/02/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây. Buộc S phải chấp hành chung cho 02 bản án là 39 tháng 25 ngày tù giam. Chấp hành xong hình phạt ngày 16/3/2011.
Bản án hình sự sơ thẩm số 208/HSST ngày 22/9/2014, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Công S 12 tháng tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/6/2015.
Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2018/HS-ST ngày 19/9/2018, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Công S 08 (tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2024.
Bị can bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T3. (Có mặt tại phiên toà)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Tùng C, sinh năm 1976; Địa chỉ: P T, phường N, quận Đ, Hà Nội. (Có mặt tại phiên toà)
2. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số C N, phường Q, quận H, Hà Nội. (Có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 26/9/2024, Nguyễn Công S một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda LEAD màu nâu, BKS 29E1 – 581.97 đi từ nhà ở số C N, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội ra khu vực Công viên T, phường D, quận H để tìm mua ma túy đá về sử dụng. Tại đây, S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 (một) túi nilông màu trắng, kích thước (1,5x2)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau đó, S cất túi ma túy đá vừa mua được vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi S đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Đặng Kim T là bạn quen biết ngoài xã hội gọi điện bảo ra Bưu điện H3 nhờ chở đi có việc, S đồng ý và cầm theo túi ma túy đá, sau đó lấy xe máy đi ra Bưu điện H3 đợi T, khoảng 10 phút sau T đi taxi đến. T điều khiển xe chở S, T bảo đi vào D có việc. Khi T chở S đi đến khu vực trước cửa nhà nghỉ S1 – Khu đất dịch vụ liền kề 16,17,18 tổ dân phố Q, phường D, quận H, Hà Nội thì bị Tổ công tác Công an phường T3, quận H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Vật của vụ án đã thu giữ:
- * Thu giữ của Nguyễn Công S: 01(một) túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu, BKS 29E1- 581.97, số khung: 542014, số máy: 0207473 và 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu đen bên trong lắp sim số 0344048463, đã qua sử dụng;
- * Thu giữ của Đặng Kim T: 01(một) túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy và 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu đen, bên trong lắp sim số 0398559612, đã qua sử dụng.
Ngày 06/9/2024, Cơ quan điều tra Quyết định trưng cầu giám định, đối với 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đã thu giữ của Đặng Kim T và 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đã thu giữ của Nguyễn Công S.
Tại Bản kết luận giám định số 7047/KL-KTHS ngày 05/10/2024 của Phòng K1 - Công an T3, kết luận (BL 51):
“Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (thu giữ của Đặng Kim T) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,251 gam”.
“Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (thu giữ của Nguyễn Công S) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,258 gam”.
Về nguồn gốc số ma túy:
Nguyễn Công S khai mua của một người nam giới (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) tại khu vực Công viên T, phường D, quận H. Đặng Kim T khai mua của một người nam giới (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) tại khu vực Cầu C, phường Q, quận H. Ngoài lời khai của T và S không có tài liệu chứng cứ nào khác, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ người bán ma túy cho S, T, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Lead màu nâu, mang BKS 29E1 - 581.97; số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473 thu giữ của Nguyễn Công S. Quá trình điều tra xác minh, chiếc biển kiểm soát 29E1 - 581.97 là của xe máy nhãn hiệu Honda SCR màu trắng, số khung: LWBTDH10X71036786; số máy: WH150MH07K01853, chủ xe là chị Nguyễn Thu T1 sinh năm 1985, HKTT: P401 E4 V, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Chị T1 trình bày: Năm 2012, chị T1 mua và đăng ký chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, đến năm 2019 chị T1 đã bán chiếc xe máy này cho một người nam giới không quen biết qua mạng xã hội Facebook, khi bán xe có đầy đủ giấy tờ.
Kết quả điều tra xác định xe máy nhãn hiệu Honda Lead số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473 có màu vàng-đen, BKS 30L6 – 7465, chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Tùng C sinh năm 1976, HKTT: P, N, quận Đ, thành phố Hà Nội. Chị C trình bày: Năm 2010 chị C mua và đăng ký chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, đến tháng 11/2021 chị C bị mất chiếc xe máy trên tại khu vực cổng chợ K2, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội nhưng chị C không trình báo Cơ quan Công an. Kết quả xác minh tại Công an phường K, quận Đ, Hà Nội không lưu giữ hồ sơ, tài liệu, thông tin vụ việc người tên Nguyễn Thị Tùng C sinh năm 1976, trú tại: P5 E5 T, N, quận Đ, Hà Nội trình báo bị mất xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng-đen, BKS: 30L6 - 7465, số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473 trên địa bàn phường K.
Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định số khung, số máy xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu, mang BKS 29E1 - 581.97, số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473, kết quả số khung, số máy là nguyên thủy. Tra cứu dữ liệu xe máy vật chứng, xe máy nhãn hiệu Honda SCR màu trắng, BKS 29E1 - 581.97 số khung: LWBTDH10X71036786; số máy: WH150MH07K01853 và xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng-đen, BKS 30L6 - 7465, số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473 đều không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã đăng 03 số báo tìm chủ sở hữu xe máy Honda Lead màu nâu, mang BKS 29E1 - 581.97; số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473 nhưng đến nay chưa có kết quả. Nên Cơ quan điều tra đã chuyển 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu, BKS 29E1- 581.97, số khung: 542014, số máy: 0207473; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu đen bên trong lắp sim số 0344048463, đã qua sử dụng; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu đen, bên trong lắp sim số 0398559612, đã qua sử dụng cùng phong bì niêm phong chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Công S, Đặng Kim T đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành dân sự quận H để giải quyết trong giai đoạn xét xử.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Kim T và Nguyễn Công S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị can phù hợp lời khai của người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 06/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Đặng Kim T và Nguyễn Công S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã truy tố.
Người liên quan chị Nguyễn Thị Tùng C đề nghị Hội đồng xét xử cho chị nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu xe máy Honda Lead; số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473 để làm phương tiện đi lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Kim T từ 24 đến 30 tháng tù, bị cáo Nguyễn Công S từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về tang vật: Đề nghị tịch thu tiêu hủy tang vật là ma túy và chiếc biển kiểm soát 29E1 - 581.97; trả lại bị cáo Đặng Kim T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu đen, bên trong lắp sim số 0398559612, đã qua sử dụng; trả lại bị cáo Nguyễn Công S 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu đen bên trong lắp sim số 0344048463, đã qua sử dụng. Sau khi hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu, không có ai tranh chấp về quyền sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu; số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473, trả lại chị Nguyễn Thị Tùng C.
Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng phản ánh, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu đã thu thập được. Nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/9/2024, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ S1 – Khu Đất dịch vụ liền kề 16,17,18 tổ dân phố Q, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; Đặng Kim T có hành vi cất giấu 0,251 gam ma túy loại Methamphetamine và Nguyễn Công S có hành vi cất giấu 0,258 gam ma túy loại Methamphetamine, thì bị Công an phường T3 phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo T và S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc quản lý, trao đổi chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy phát triển. Bị cáo T, S đều đã có tiền án chưa được xóa án tích, nhân thân xấu, thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội mình gây ra.
Hội đồng xét xử cũng xem xét các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy tang vật là ma túy và chiếc biển kiểm soát 29E1 - 581.97; trả lại bị cáo Đặng Kim T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu đen, bên trong lắp sim số 0398559612, đã qua sử dụng; trả lại bị cáo Nguyễn Công S 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu đen bên trong lắp sim số 0344048463, đã qua sử dụng. Đối với chiếc chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu; số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473, cơ quan điều tra đã thông báo tìm kiếm trên B thủ đô trong 03 số liên tiếp vào các ngày 04, 06 và 07 tháng 12 năm 2024. Sau khi hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu, không có ai tranh chấp về quyền sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu; số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473, trả lại chị Nguyễn Thị Tùng C.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về quyết định truy tố bị cáo Đặng Kim T và Nguyễn Công S về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Kim T từ 24 đến 30 tháng tù, bị cáo Nguyễn Công S từ 24 đến 30 tháng tù.
Xét mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần phải có biện pháp cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe phòng ngừa chung nên cần phạt tù giam đối với bị cáo.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Kim T và Nguyễn Công S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Kim T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công S 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong, tại các mép dán có chữ kỹ của đối tượng Đặng Kim T, cán bộ Công an phường T3 - Nguyễn Đức T2 và Giám định viên Nguyễn Hoàng H2; 01 (một) phong bì niêm phong, tại các mép dán có chữ ký của đối tượng Nguyễn Công S, cán bộ Công an phường T3 - Nguyễn Đức T2 và Giám định viên Nguyễn Hoàng H2; 01 BKS: 29E1-581.97
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Công S 01 (một) chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 màu đen, bên trong lắp sim số 0344048463, đã qua sử dụng;
- + Trả lại cho bị cáo Đặng Kim T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen, bên trong lắp sim số 0398559612, đã qua sử dụng.
- + Sau khi hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu, không có ai tranh chấp về quyền sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu nâu; số khung: RLHJF24029Y542014, số máy: JF24E0207473, trả lại chị Nguyễn Thị Tùng C.
Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025.
3. Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thanh Hải |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Đặng Kim T và Nguyễn Công S có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine
