Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số:42/2025/DS-PT

Ngày: 18/02/2025

V/v: “T/c hợp đồng đặt cọc”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu

Các thẩm phán: Bà Lê Thị Ký

Bà Đỗ Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Loan – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 314/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 298/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 818 ngày 27/12/2024 và Quyết định số 20 ngày 20/01/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Kim T, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Số B, đường D, tổ I, Ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn:

  1. Ông Chu Ngọc T1, sinh năm 1985;
  2. Ông Chu Ngọc T2, sinh năm 1991;
  3. Bà Chu Thị Q, sinh năm 1978;

Cùng địa chỉ: Tổ H, Ấp A, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 (Văn bản ủy quyền ngày 02/12/2024): Ông Lê Quốc B, sinh năm 1982.

Địa chỉ: F, khu phố N, ấp B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Địa chỉ liên lạc: Cầu R, hẻm B, ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Chu Thị Ở, sinh năm 1947;

Địa chỉ: Tổ H, Ấp A, xã M, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

(Ông T1, ông T2, bà Q, ông B có mặt; anh M, bà Ở vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Đặng Thị Kim T do anh Nguyễn Thanh M đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 05/4/2022, ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q ký hợp đồng đặt cọc với bà Đặng Thị Kim T. Theo đó, gia đình ông T1 chuyển nhượng cho bà T diện tích đất 2.100m² thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 04, xã M, huyện V với giá 2.490.000.000 đồng, trên đất có nhà. Hai bên thỏa thuận, ông T1 sẽ hỗ trợ pháp lý cắm mốc, làm biên nhận đo bao có bản vẽ riêng, có số tờ số thửa riêng, mời người xuống đo vẽ cắm mốc theo ranh mốc đã bán cho bà T trong đó có nhà và đất CLN + ONT, làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T. Trong thời hạn 30 ngày, ông Chu Ngọc T1 phải hoàn tất giấy tờ pháp lý, bà T sẽ chồng đủ tiền. Phương thức thanh toán chia làm 03 lần: lần 1 vào ngày 05/4/2022 đặt cọc 190.000.000đ triệu đồng; lần 2 đặt cọc 300 triệu đồng; lần 3 trong vòng 30 ngày kể từ ngày 05/4/2022 đến ngày 05/5/2022, hai bên sẽ ra Văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng thì bà T sẽ trả đủ số tiền còn lại là 2.000.000.000 đồng. Trong hợp đồng đặt cọc cũng ghi rõ, khi hết thời hạn đặt cọc (từ ngày 05/4/2022 đến ngày 05/5/2022), ông T1, ông T2, bà Q không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì sẽ bồi thường gấp 2 lần số tiền bà T đã đặt cọc.

Thực hiện hợp đồng, bà T đã trả tiền cọc cho gia đình ông T1 190.000.000đ vào ngày 05/4/2022. Ngày 20/4/2022, bà T giao tiếp cho ông T1 500.000.000 đồng tại nhà ông T1 có sự chứng kiến của bà Chu Thị Ở (mẹ ông T1), có lập giấy ông T1 ký tên, lăn tay. Đồng thời, hai bên thỏa thuận lại, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày 20/4/2022 đến ngày 05/6/2022, ông T1 phải làm xong giấy tờ đất và giao nhà, đất cho bà T, bà T sẽ trả nốt 1.800.000.000 đồng.

Đến ngày 05/6/2022, ông Chu Ngọc T1 chưa hoàn thành giấy tờ pháp lý và bản vẽ, biên nhận đo bao cho bà T, nên xin bà T gia hạn 30 ngày nữa để hoàn thiện thủ tục. Hết thời gian gia hạn (ngày 05/7/2022), bà T nhiều lần yêu cầu ông T1, bà Q, ông T2 thực hiện hợp đồng, nhưng ông T1 né tránh, không thực hiện.

Do ông T1 vi phạm thỏa thuận hợp đồng đặt cọc, nên nguyên đơn yêu cầu: chấm dứt hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/4/2022 giữa bà Đặng Thị Kim T với ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2 và bà Chu Thị Q. Buộc ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q phải trả lại cho bà Đặng Thị Kim T tiền cọc đã nhận là 190.000.000 đ và phạt cọc là 190.000.000đ. Buộc ông Chu Ngọc T1 phải trả lại cho bà Đặng Thị Kim T 500.000.000đ đã nhận ngày 20/4/2022.

Buộc ông Chu Ngọc T1 phải trả cho bà Đặng Thị Kim T tiền lãi chậm trả của số tiền 500.000.000đ từ ngày 05/7/2022 đến ngày xét xử dự kiến ngày 05/09/2024 là: 26 tháng x 500.000.000₫ x 1% /tháng = 130.000.000đ. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông M không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Chu Ngọc T1 trình bày:

Trước đây ông có thỏa thuận chuyển nhượng một phần diện tích đất cho bà T và có làm hợp đồng đặt cọc với bà T. Nay bà T khởi kiện yêu cầu ông trả lại tiền thì ông không đồng ý, vì hiện nay bà T không đồng ý mua đất chứ không phải do ông không bán. Nay bà T không mua đất nữa thì mất tiền cọc, chứ không thể buộc ông trả lại tiền và bồi thường.

Việc bán đất cho bà T do ông đại diện gia đình bán và ông là người trực tiếp nhận tiền, còn bà Chu Thị Q, ông Chu Ngọc T2 ký vào hợp đồng với tư cách là người chứng kiến chứ không phải là người bán. Vì vậy, đề nghị Tòa án không đưa bà Q và ông T2 vào tham gia vụ án này.

Bị đơn ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị Ở không có lời khai.

Bản án Dân sự sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã áp dụng Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Hủy hợp đồng đặt cọc ký ngày 05/4/2022 giữa bà Đặng Thị Kim T với ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2 và bà Chu Thị Q.

- Buộc ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2 và bà Chu Thị Q phải có trách nhiệm trả cho bà Đặng Thị Kim T số tiền là 880.000.000 đồng (gồm tiền cọc 190.000.000 đồng + phạt cọc 190.000.000 đồng + tiền thanh toán lần 2 là 500.000.000 đồng).

Về án phí: Buộc ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2 và bà Chu Thị Q phải nộp án phí DSST là 38.400.000 đồng và 300.000 đồng. Tổng cộng là 38.700.000 đồng.

Hoàn trả cho bà Đặng Thị Kim T tạm ứng án phí đã nộp 26.700.000 đồng theo biên lai thu số 0005086 ngày 28/3/2023 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005085 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/10/2024, ông Chu Ngọc T1 kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1 đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về việc thuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng diện tích đất 2.100m² thuộc một phần thửa 98, tờ bản đồ số 04, xã M ký ngày 05/4/2022 giữa ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q với bà Đặng Thị Kim T là vô hiệu, vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì đất này có nguồn gốc của Lâm trường giao cho gia đình ông Chu Ngọc D, ông D đi đăng ký kê khai năm 2008, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ông D chết, các con ông D gồm ông T1, ông T2, bà Q ký Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất cho bà T là không đúng, vì đất chưa được cấp quyền sử dụng. Do Hợp đồng vô liệu tại thời điểm giao kết, nên các đương sự trả lại cho nhau những gì đã nhận, không phạt cọc. Ông T1, ông T2, bà Q cùng ký vào hợp đồng đặt cọc ngày 05/4/2022 với tư cách người bán và cùng ngày này bà T giao 190.000.000đ, nên cả 3 người phải trả lại bà T số tiền này. Còn số tiền 500.000.000đ bà T giao ngày 20/4/2022 do một mình ông T1 nhận và ký tên, bà T cũng chỉ yêu cầu một mình ông T1 trả, nên ông T1 có trách nhiệm trả tiền. Cấp sơ thẩm chấp nhận phạt cọc và buộc của ông T1, ông T2, bà Q phải trả lại tiền đã nhận và phạt cọc trên số tiền 190.000.000đ là không đúng, đề nghị sửa án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về Tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Chu Ngọc T1 làm trong hạn luật định, đã đóng tạm ứng án phí, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Ông Nguyễn Thanh M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Chu Thị Ở được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự này.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ngày 05/4/2022, ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q với bà Đặng Thị Kim T ký Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Theo đó, ông T1, ông T2, ông Q chuyển nhượng cho bà T 2.100m² đất, thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 98, xã M, huyện V với giá 2.490.000.000đ. Hai bên thỏa thuận trả tiền làm 03 đợt; đợt 1 trả 190.000.000đ vào ngày 05/4/2022; đợt 2 trả 300.000.000đ; đợt 3: trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 05/04/2022 đến ngày 05/5/2022 hai bên ra phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà Thanh thanh T3 nốt 2.000.000.000đ. Ngoài ra, hai bên còn thỏa thuận: Trường hợp bên bán không cung cấp giấy tờ có liên quan đến thửa đất, hay thửa đất bị tranh chấp hay đổi ý không bán thì phải bồi thường gấp 2 lần số tiền đặt cọc. Trường hợp bên mua không đúng hẹn thỏa thuận đặt cọc sẽ mất tiền cọc. Thực hiện hợp đồng, bà T đã giao 190.000.000đ vào ngày 05/4/2022 có ông T1, ông T2, bà Q ký tên và giao 500.000.000đ vào ngày 20/4/2022 có ông T1 ký tên và mẹ ông T1 là bà Chu Thị Ở điểm chỉ.

[2.2] Theo công văn số 200 ngày 30/7/2024 và chứng cứ đang lưu giữ tại UBND xã M được Ủy ban cung cấp thể hiện: Thửa đất số 04 tờ bản đồ số 98 xã M, diện tích 5.268,7m² do ông Chu Ngọc D kê khai đăng ký ngày 21/11/2008 có ngồn gốc đất do Lâm trường quản lý giao cho gia đình sử dụng từ năm 1992, qua nhiều lần thay đổi giấy sử dụng đất, năm cuối cùng lâm trường làm hợp đồng giao khoán số 448/HĐGKĐ ngày 25/8/2003; đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Ngày 07/3/2019 ông D chết, ngày 10/01/2020 người thừa kế của ông D là bà Chu Thị Ở (vợ) và các con Chu Thị Q, Chu Ngọc T1, Chu Ngọc T2 có Văn bản phân chia thừa kế thửa đất số 04 của ông D cho ông Chu Ngọc T1, văn bản được UBND xã M chứng thực (bút lục số 76 đến 81).

[2.3] Như vậy, thửa đất số 04, tờ bản đồ số 98, xã M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D. Sau khi ông D chết, ngày 05/4/2022 các con ông D là Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q với bà Đặng Thị Kim T ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng một phần thửa đất trên là vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 và điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, hợp đồng đặt cọc này vô hiệu do lỗi của cả hai, cần phải hủy bỏ, các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận và không phạt cọc theo quy định tại điều 123, 131 của Bộ luật dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại điểm d mục 1 phần I Nghị quyết số 01/2003 ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Cấp sơ thẩm xác định hợp đồng đặt cọc có hiệu lực và cho rằng bên nhận cọc vi phạm nghĩa vụ phải chịu phạt cọc là không đúng, nên cần sửa một phần bản án sơ thẩm về nội dung phạt cọc.

[3] Về nghĩa vụ trả lại tiền đã nhận:

[3.1] Đối với số tiền 190.000.000đ giao ngày 05/4/2022.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q không đến Tòa án làm việc và không có bản khai; sau khi xét xử sơ thẩm, Tòa án đã tống đạt hợp lệ bản án cho ông T1, ông T2, bà Q, nhưng chỉ một mình ông T1 kháng cáo, còn ông T2, bà Q không kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Q, ông T2 cho rằng mình không nhận 190.000.000đ, mà tiền này do ông T1 nhận và sử dụng. Tuy nhiên, theo giấy đặt cọc ngày 05/4/2022 thể hiện, bên bán là ông Chu Ngọc T1 cùng bà Chu Thị Q, ông Chu Ngọc T2 và cả 3 ông bà cùng ký tên, điểm chỉ vào mục người bán, đồng thời giấy đặt cọc cũng thể hiện bà T đã giao 190.000.000đ vào ngày 05/4/2022. Ông T1, ông T2, bà Q không có chứng cứ nào chứng minh chỉ một mình ông T1 nhận và sử dụng 190.000.000đ, nên cấp sơ thẩm buộc ông T1, ông T2, bà Q cùng có trách nhiệm trả bà T 190.000.000₫ là có căn cứ.

[3.2] Đối với số tiền 500.000.000đ bà T giao ngày 20/4/2022.

Mặt sau của giấy đặt cọc (bút lục 68) thể hiện: Ngày 20/4/2022 cô Đặng Thị Kim T giao thêm cho Chu Ngọc T1 500.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1, ông T2, bà Q xác định một mình ông T1 nhận và sử dụng số tiền này; Mặt khác, tại đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà T và ý kiến của ông M (người đại diện theo ủy quyền của bà T) trong bản tường trình, biên bản phiên tòa sơ thẩm (bút lục 82, 84, 122) thể hiện, bà T chỉ yêu cầu một mình ông T1 trả 500.000.000đ, nên có cơ sở để buộc một mình ông T1 trả số tiền 500.000.000đ. Cấp sơ thẩm buộc cả ông T1, bà Q, ông T2 trả bà T 500.000.000đ là không đúng, cần sửa án sơ thẩm về nội dung này.

[4] Về án phí: Ông T1, ông T2, bà Q phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trên số tiền 190.000.000₫ x 5% = 9.500.000đ : 3 = 3.166.666đ/người.

Ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 500.000.000₫ là: 20.000.000đ + 4.000.000₫ (100.000.000₫ x 4%) = 24.000.000đ. Tổng số tiền ông T1 phải chịu là 3.166.666đ + 24.000.000đ = 27.166.666₫.

Án phí phúc thẩm ông T1 không phải chịu.

[5] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Chu Ngọc T1, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

Áp dụng Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 117, Điều 123, Điều 131, Điều 328 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2003 ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Kim T với bị đơn ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
    • - Tuyên bố hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 05/4/2022 giữa ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q với bà Đặng Thị Kim T vô hiệu.
    • - Hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 05/4/2022 giữa ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q với bà Đặng Thị Kim T.
    • - Buộc ông Chu Ngọc T1, ông Chu Ngọc T2 và bà Chu Thị Q trả cho bà Đặng Thị Kim T số tiền 190.000.000đ (Một trăm chín mươi triệu đồng).
    • - Buộc ông Chu Ngọc T1 trả cho bà Đặng Thị Kim T số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng).
  2. Về án phí:
    • Ông Chu Ngọc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27.166.666₫. Ông T1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T1 đã nộp 300.000₫ theo Biên lai thu số 0010036 ngày 14/10/2024 được trừ vào án phí ông T1 phải chịu.
    • Ông Chu Ngọc T2, bà Chu Thị Q phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm, mỗi người là 3.166.666₫.
    • Hoàn trả cho bà Đặng Thị Kim T tạm ứng án phí đã nộp 26.700.000₫ theo biên lai thu số 0005086 ngày 28/3/2023 và 300.000đ theo biên lai thu số 0005085 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của những người được thi hành án cho đến khi thi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các thành viên

Lê Thị Ký     -     Đỗ Thị Nhung

Thẩm phán

Chủ tọa phiên toà

Vũ Thị Thu

*Nơi nhận:

  • - TAND huyện Cẩm Mỹ;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ;
  • - Đương sự trong vụ án;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/DS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 42/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Kim T - Chu Ngọc T1 - Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger