TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/DS-PT Ngày 17-02-2025 V/v“Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 279/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 40/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Bà Kim Thị Hồng Đ, sinh năm 1992;
Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trầm Phước N, sinh năm 1988 (Có mặt);
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1957 (có mặt)
Địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thanh H - Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. - Bà Nhan Thị C, sinh năm 1954;
- Anh Thạch Chanh R, sinh năm 1979;
- Anh Thạch Văn C1, sinh năm 1982;
- Chị Thạch Thị Sô P, sinh năm 1975;
Cùng địa chỉ: ấp X, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh. - Anh Thạch Văn C2, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Số C, đường B, khu phố I, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của anh R, anh C1, chị P và anh C2: Bà Nhan Thị C, sinh năm 1954 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: ấp X, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Thạch Thị N1, sinh năm 1957.
Địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của bà Thạch Thị N1: Anh Trần Ánh S, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn T là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/11/2022; đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Trầm Phước N trình bày: Bà Đ có một thửa đất 354, diện tích 90m², tờ bản đồ số 9, loại đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, đất toạ lạc tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2013. Nguồn gốc đất là của cha ruột tên Kim S1 tặng cho, do diện tích đất nhỏ nên để trống không sử dụng, đến khi sử dụng thì ông Trần Văn T ngăn cản cho rằng đất này của ông T. Bà Đ thống nhất với kết quả đo đạc, kết quả định giá nên không yêu cầu đo đạc hay định giá lại. Nay yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Trần Văn T trả lại quyền sử dụng đất tranh chấp theo sơ đồ khu đất tại phần ký hiệu 1 diện tích 105,3m², thuộc thửa đất 354, loại đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh để được quản lý, sử dụng. Đối với yêu cầu phản tố của ông T bà Đ không đồng ý.
Theo đơn phản tố và quá trình giải quyết vụ án ông Trần Văn T trình bày: Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Kim Thị Hồng Đ. Vì phần đất này là của ông nhận chuyển nhượng của ông Thạch Sa R1 và bà Nhan Thị C vào năm 1994. Kể từ khi nhận chuyển nhượng ông sử dụng. Quá trình sử dụng ông có cải tạo đất, trồng dừa nước. Việc chị Đ không có sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng. Ông thống nhất với kết quả đo đạc, kết quả định giá nên ông không yêu cầu đo đạc hay định giá lại. Nay ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Đ. Ông yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất diện tích thực đo 105,3m², thửa đất 354, tờ bản đồ số 9, loại đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, đất tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng của ông. Đồng thời yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 354 nên trên cho bà Kim Thị Hồng Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nhan Thị C trình bày: Chồng bà tên Thạch Sa R1 (tên gọi khác là Thạch Sa R2) đã chết. Vào khoảng năm 1992-1994 do quá lâu nên bà không nhớ thời gian chính xác, vợ chồng bà có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T diện tích 3,5 công. Việc chuyển nhượng có làm giấy tay, diện tích ghi trong giấy tay diện tích bao nhiêu bà không biết, vì bà không có ký tên. Vị trí đất vợ chồng bà chuyển nhượng cho ông T giáp đất đang tranh chấp. Phần đất tranh chấp từ trước đến nay vợ chồng bà không có quản lý, sử dụng. Theo tài liệu địa chính năm 1983 ông Thạch Sa R2 kê khai bà không biết. Bà khẳng định phần đất tranh chấp vợ chồng bà không có quản lý, sử dụng. Nay bà không có ý kiến gì đối với tranh chấp giữa bà Đ và ông T. Các con bà thồng nhất với ý kiến trình bày của bà, không trình bày bổ sung.
Người đại diện theo quyền của bà Thạch Thị N1 trình bày: Bà N1 là vợ ông T, nay bà N1 thống nhất ý kiến của ông T, không có ý kiến gì bổ sung.
Tại Văn bản số 1937/UBND-NC ngày 15 tháng 12 năm 2023 của UBND huyện T ý kiến như sau:
Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng: Ngày 28/8/2013, ông Kim S1 là cha của chị Kim Thị Hồng Đ có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất 354, diện tích 90m², tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho chị Kim Thị Hồng Đ; thời điểm lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên, ranh giới sử dụng ổn định không có phát sinh tranh chấp; thủ tục tặng cho không có khiếu nại hoặc ngăn cản việc thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hai bên và sau khi nhận tặng cho quyền sử dụng đất, chị Kim Thị Hồng Đ tiếp tục quản lý, sử dụng.
Về thông tin tư liệu hồ sơ địa chính, thay đổi diện tích giữa hiện trạng sử dụng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo thông tin số liệu địa chính được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp cho thấy trong tư liệu hồ sơ địa chính thửa đất 354, diện tích 90m², tờ bản đồ số 9, toạ lạc tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nhưng theo số liệu khảo sát đo đạc hiện trạng sử dụng đất do chủ sử dụng đất hướng dẫn thì diện tích thửa đất trên tăng thêm 15,3m²; nguyên nhân tăng là do tính toán sai diện tích, bởi vì theo sơ đồ vị trí thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thể hiện ranh giới do chủ sử dụng đất hướng dẫn nhỏ hơn ranh giới được thể hiện trong tư liệu địa chính. Sau khi nhận tặng cho quyền sử dụng đất chị Kim Thị Hồng Đ tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất trên. Thởi điểm lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không phát sinh tranh chấp. Do đó việc UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 354 cho chị Kim Thị Hồng Đ đúng quy định của pháp luật. Riêng phần diện tích thửa đất tăng 15,3m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp năm 2013 là do tính toán sai diện tích và không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các thửa đất giáp cận.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Kim Thị Hồng Đ. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn T.
Buộc ông Trần Văn T trả quyền sử dụng đất tại phần đất ký hiệu 1 thực đo 105,3m² thuộc thửa đất 354, tờ bản đồ số 9, loại đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho chị Kim Thị Hồng Đ quản lý, sử dụng.
Đất có vị trí, kích thước, tư cận như sau:
Hướng Đông giáp ký hiệu 2, kích thước 11,7m.
Hướng Tây giáp ký hiệu 3, kích thước 6,94m và giáp ký hiệu 4, kích thước 3,76m.
Hướng Nam giáp thửa đất 355, kích thước 10,5m.
Hướng Bắc giáp thửa đất 353, kích thước 8.9m.
Kèm sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 1054/CNHTrC ngày 20/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.
Chị Kim Thị Hồng Đ được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo quyết định của Bản án này sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính (nếu có).
Buộc chị Kim Thị Hồng Đ phải thanh tiền công quản lý, tôn tạo đất và tiền giá trị cây trồng trên đất cho ông Trần Văn T là 2.240.100 (Hai triệu hai trăm bốn mươi nghìn một trăm) đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/09/2024 bị đơn ông Trần Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm 43/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh theo hướng bác đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Kim Thị Hồng Đ về việc yêu cầu buộc ông phải giao trả lại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 9, diện tích 90m² (thực đo 105,3 m²), tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chấp nhận đơn phản tố của ông về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Kim Thị Hồng Đ, công nhận thửa đất số 354, tờ bản đồ số 9, diện tích 90m² (thực đo 105,3 m²), tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn T.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn T phát biểu quan điểm:
Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T, sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Kim Thị Hồng Đ về việc yêu cầu ông Trần Văn T trả diện tích tranh chấp thực đo là 105,3m², thuộc thửa đất 354, loại đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn T huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho chị Kim Thị Hồng Đ thuộc thửa đất 354. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích thực đo 105,3m² thuộc thửa đất 354, loại đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt cho ông Trần Văn T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến và tranh tụng công khai tại phiên toà hôm nay. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm 43/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh theo hướng bác đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Kim Thị Hồng Đ về việc yêu cầu buộc ông phải giao trả lại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 9, diện tích 90m² (thực đo 105,3 m²), tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chấp nhận đơn phản tố của ông về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Kim Thị Hồng Đ, công nhận thửa đất số 354, tờ bản đồ số 9, diện tích 90m² (thực đo 105,3 m²), tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn T là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn ông Trần Văn T kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét về yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm 43/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh theo hướng bác đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Kim Thị Hồng Đ về việc yêu cầu buộc ông phải giao trả lại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 9, diện tích 90m² (thực đo 105,3 m²), tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chấp nhận đơn phản tố của ông về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Kim Thị Hồng Đ, công nhận thửa đất số 354, tờ bản đồ số 9, diện tích 90m² (thực đo 105,3 m²), tọa lạc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn T. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3] Nguồn gốc thửa đất số 354, diện tích 90m² (thực đo 105,3m²) tờ bản đồ số 9, loại đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Kim Thị Hồng Đ vào ngày 12 tháng 9 năm 2013 là của ông bà để lại cho ông Kim S1. Sau đó ông Kim S1 là cha mẹ ruột bà Đ tặng cho lại bà Đ, do đất diện tích nhỏ nên bà Đ không có sử dụng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 7 năm 2023 (BL 96) ông Trần Văn T khai: “Trước đây do tôi không biết nên có lời khai nguồn gốc đất thửa 354, diện tích 90m² là của ông Thạch Sa R1, bà Nhan Thị C. Tuy nhiên, sau khi tranh chấp tôi có tìm hiểu mới biết nguồn gốc đất này là của cha chị Kim Thị Hồng Đ không phải của ông Thạch Sa R1, bà Nhan Thị C”. Theo lời khai của bà Nhan Thị C là người chuyển nhượng đất cho ông Trần Văn T cho rằng phần đất đang tranh chấp vợ chồng bà không có chuyển nhượng cho ông Trần Văn T, vì phần đất tranh chấp không phải của vợ chồng bà mà là nguồn gốc đất của bà H1 (bà ngoại của bà Đ), phần đất vợ chồng mà bà chuyển nhượng cho ông Trần Văn T là thửa 357 giáp ranh với phần đất đang tranh chấp. Như vậy, có thể khẳng định thửa đất số 354 có nguồn gốc đất là của ông bà của bà Kim Thị Hồng Đ là phù hợp với biên bản xác minh của ông Nguyễn Văn H2, lời khai của bà Nhan Thị C và lời khai thừa nhận của ông Trần Văn T tại (bút lục số 92) có trong hồ sơ vụ án.
[4] Ông Trần Văn T cho rằng phần đất tranh chấp ông nhận chuyển nhượng của bà Nhan Thị C và ông Thạch Sa R1 nhưng bà Nhan Thị C không thừa nhận có việc chuyển nhượng phần đất này cho ông Trần Văn T, phần đất vợ chồng bà chuyển nhượng cho ông T giáp với 03 thửa đất trong đó không có thửa đất đang tranh chấp. Mặc khác, phần đất ông Trần Văn T nhận chuyển nhượng của ông Sa R1, bà C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2022, tuy nhiên sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Trần Văn T không khiếu nại gì về việc cơ quan quản lý đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông không đúng với phần diện tích ông đã mua. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kim Thị Hồng Đ, không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn T và buộc bà Kim Thị Hồng Đ phải thanh tiền công sức quản lý, tôn tạo đất và tiền giá trị cây trồng trên đất cho ông Trần Văn T là 2.240.100 đồng là có căn cứ. Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn T không phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Trần Văn T không được chấp nên phải chịu án phí dân sự phúc nhưng do ông Trần Văn T là người cao tuổi, nên ông T được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kim Thị Hồng Đ. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn T.
Buộc ông Trần Văn T trả quyền sử dụng đất tại phần đất ký hiệu 1 thực đo 105,3m² thuộc thửa đất 354, tờ bản đồ số 9, loại đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho bà Kim Thị Hồng Đ quản lý, sử dụng.
Đất có vị trí, kích thước, tư cận như sau:
Hướng Đông giáp ký hiệu 2, kích thước 11,7m.
Hướng Tây giáp ký hiệu 3, kích thước 6,94m và giáp ký hiệu 4, kích thước 3,76m.
Hướng Nam giáp thửa đất 355, kích thước 10,5m.
Hướng Bắc giáp thửa đất 353, kích thước 8.9m.
Kèm sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 1054/CNHTrC ngày 20/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.
Bà Kim Thị Hồng Đ được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo quyết định của Bản án này sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
Buộc bà Kim Thị Hồng Đ phải thanh tiền công quản lý, tôn tạo đất và tiền giá trị cây trồng trên đất cho ông Trần Văn T là 2.240.100 đồng (Hai triệu hai trăm bốn mươi nghìn một trăm).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Văn T.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 42/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 42/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSD đất
