TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/02/2025
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn và nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tám
- 2. Ông Phạm Trung Thành
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Công Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 683/2024/TLST–HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Kim N, sinh năm: 1996.
- Bị đơn: Anh Châu Hoàng N1, sinh năm: 1996.
Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Chị N, anh N1 có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 27/11/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Võ Kim N trình bày:
- - Chị và anh Châu Hoàng N1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2023, có đăng ký kết hôn, quá trình sống chung đến tháng 9/2023 phát sinh mâu thuẫn và tự cắt đứt quan hệ vợ chồng đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh N1 không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nay chị yêu cầu xin ly hôn anh N1.
- - Về con chung: Chị và anh N1 có 01 con chung tên Châu Ngọc Bảo V, sinh ngày 28/9/2003. Hiện con chung do chị nuôi dưỡng từ khi sanh đến nay.
- Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có nợ chung.
* Theo tờ tự khai đề ngày 26/12/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Châu Hoàng N1 trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời khai chị Võ Kim N. Trong thời gian sống chung vợ chồng có xảy ra cự cãi nhưng không lớn, đến khi chị N sanh về nhà cha mẹ vợ sống và cắt đứt quan hệ vợ chồng đến nay, anh không rõ nguyên nhân. Nay anh không đồng ý ly hôn, nếu chị N cương quyết ly hôn anh yêu cầu được nuôi con.
- - Về con chung: Có 01 con chung như lời chị N khai là đúng.
- - Về tài sản chung: Anh không yêu cầu giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có nợ chung.
- * Tại phiên tòa, chị N, anh N1 vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
- Về quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc hôn nhân và con chung với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn trong vụ án có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại huyện C, tỉnh Tiền Giang, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung của vợ chồng, nên xác định đây là tranh chấp Xin ly hôn và nuôi con chung theo quy định tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
- - Chị Võ Kim N và anh Châu Hoàng N1 xác lập quan hệ vợ chồng vào đầu năm 2023, có đăng ký kết hôn, tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo bản sao Trích lục kết hôn số 11/TLKH-BS ngày 05/01/2023, quá trình sống chung đến khi chị sinh con tháng 9/2023 phát sinh mâu thuẫn và tự cắt đứt quan hệ vợ chồng đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh N1 không quan tâm đến vợ con và có thái độ không tôn trọng cha mẹ chị, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Còn anh N1 khai vợ chồng có xảy ra cự cãi, nhưng không lớn.
- Xét thấy quan hệ hôn nhân anh chị chung sống chỉ được thời gian ngắn, khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo lời khai anh, chị thì mâu thuẫn vợ chồng không lớn và mới cắt đứt quan hệ vợ chồng vào tháng 9/2023, nhưng từ khi xảy ra mâu thuẫn không được giải quyết dẫn đến phải tự cắt đứt quan hệ vợ chồng và từ khi cắt đứt quan hệ vợ chồng đến nay cũng không ai tới lui ai.
- Hơn nữa chị N đã một lần làm đơn xin ly hôn anh N1, sau chị rút đơn để tạo điều kiện vợ chồng hàn gắn đoàn tụ, nhưng sau khi rút đơn đến nay tình cảm vợ chồng cũng không được cải thiện, đồng thời anh N1 cũng không tới lui để tạo điều kiện vợ chồng hàn gắn đoàn tụ, như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng anh chị đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Do vậy, X yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N và cho chị N được ly hôn anh N1 là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung:
- - Chị N và anh N1 có 01 con chung tên Châu Ngọc Bảo V, sinh ngày 28/9/2023. Hiện con chung do chị N nuôi dưỡng từ khi sanh đến nay. Tại phiên tòa chị N, anh N1 đều có yêu cầu nuôi con.
- Xét thấy con chung anh chị hiện còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “ Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng...”, đồng thời con do chị N trực tiếp nuôi dưỡng từ khi sanh đến nay đã ổn định, do vậy không chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh N1 và giao con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng từ 3.000.000 đồng/01 con chung.
- Xét thấy con chung do chị N nuôi dưỡng, anh N1 không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do vậy chị N yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 82, Điều 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị N.
- - Về mức cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy mặc dù anh N1 làm nghề thợ tiện, nhưng thu nhập không ổn định, mức cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng/ tháng là cao so với khả năng thu nhập của anh N1, nên điều chỉnh và buộc anh N1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng số tiền là 1.500.000 đồng là phù hợp với mức thu nhập trung bình tại địa phương và nhu cầu thiết yêu của việc nuôi con theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đông Thẩm phán Toàn án nhân dân Tối Cao.
- Do vậy chấp nhận một phần mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị N và buộc anh N1 cấp dưỡng nuôi con cùng chị N mỗi tháng số tiền là 1.500.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình và thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi con đủ 18 tuổi.
[2.3]. Về tài sản chung:
Không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.4]. Về nợ chung:
Chị N, anh N1 không có nợ chung.
[3]. Về án phí:
Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và anh N1 phải chịu án phí phần cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toàn án nhân dân Tối Cao
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
- - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Kim N;
- Cho chị Võ Kim N được ly hôn với anh Châu Hoàng N1.
- Về con chung:
- - Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Võ Kim N;
- Giao con chung tên Châu Ngọc Bảo V, sinh ngày 28/9/2023 cho chị Võ Kim N tiếp tục nuôi dưỡng.
- - Không chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của anh Châu Hoàng N1.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận một phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Võ Kim N.
- Buộc anh Châu Hoàng N1 cấp dưỡng nuôi con chung tên Châu Ngọc Bảo V, sinh ngày 28/9/2023 cùng chị N mỗi tháng số tiền là 1.500.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi Châu Ngọc Bảo V đủ 18 tuổi.
- - Anh N1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung:
- Về nợ chung:
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
- - Chị Võ Kim N chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0016209 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, xem như chị N đã thi hành xong tiền án phí.
- - Anh Châu Hoàng N1 chịu 300.000 đồng ( về việc cấp dưỡng nuôi con).
- Về quyền kháng cáo:
- - Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- - Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Không đặt ra giải quyết.
Không có nợ chung.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Nhịn |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
