|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày: 13/02/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hoàng Liễu
Ông Lê Trung
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh T - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 4/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/HSST-QĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, đối với:
Võ Chí T1
, sinh năm 1998 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: B ấp I, xã T, huyện B, TP .; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Văn G và bà Nguyễn Thị T2 (chết); Có vợ là Đặng Thúy D và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt từ ngày 20/8/2024. (có mặt)
- Bị hại: Trẻ Nguyễn Đặng Gia H, sinh ngày 27 tháng 03 năm 2011.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1975; Địa chỉ: 2 Đ, khu phố A, phường L, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Đặng Thị Ngọc T4, sinh năm 1974; địa chỉ: 2 Đ, khu phố A, phường L, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Bùi Thới V, sinh năm 1977. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/8/2024, Võ Chí T1 (sinh năm 1998) và Nguyễn Đặng Gia H(sinh ngày 27/3/2011) quen biết với nhau thông qua việc sử dụng mạng xã hội. Từ đây, T1 và H thường gọi điện, nhắn tin trò chuyện dẫn đến nảy sinh tình cảm nam nữ. Ngày 11/8/2024, do buồn chuyện gia đình nên H liên lạc, hẹn T1 đến chở H đi khỏi nhà thì T1 đồng ý.
Khoảng 16 giờ ngày 11/8/2024, Võ Chí T1 điều khiển xe mô tô đến gần nơi H sinh sống tại đường Đ, thuộc Khu phố H, phường L, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai để đón và chở H đến huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 19 giờ cùng ngày, do không có nơi nghỉ ngơi nên T1 chở H đến nhà nghỉ H2 tại số G, Đường số B, Khu phố A, thị trấn T, huyện B gặp chị Phan Thị Kim T5 thuê phòng số 5 để nghỉ lại qua đêm. Sau khi lên phòng, H nằm trên giường sử dụng điện thoại, T1 đi tắm rồi ra giường nằm gần H. Khoảng 10 phút sau, T1 nảy sinh ý định quan hệ tình dục với H nên quay sang ôm hôn H, H cũng ôm hôn Tâm. T1 cởi hết quần áo của H rồi tự cởi quần áo của mình và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với H được khoảng 10 phút. Sau đó, cả hai đi tắm rửa, tự mặc lại quần áo rồi ngủ.
Trưa ngày 12/8/2024, T1 chở H đến nhà trọ số B12/15C ấp I, xã T để gặp anh Nguyễn Minh T6 thuê phòng trọ số 2. Từ ngày 13/8/2024 đếnngày 15/8/2024, T1 và H đã 03 lần quan hệ tình dục với nhau.
Ngày 15/8/2024, H đón xe ôm về Thành phố B, tỉnh Đồng Nai và kể lại việc quan hệ tình dục với T1 cho mẹ ruột là bà Đặng Thị Ngọc T4 biết. Ngày 18/8/2024, bà T4 hẹn gặp T1 tại vòng xoay A thuộc ấp A, xã T để nói chuyện. Khi T1 đến thì bị bà T4 giữ lại và trình báo Công an xã T. Công an xã T lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 110/KLTDTE ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Trung tâm pháp y Thành phố H kết luận:
- Màng trinh: Dãn, không rách.
- Không tìm thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, âm hộ và hậu môn. Chỉ hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo nhưng không đủ cơsở so sánh với ADN của đối tượng.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Chí T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêutrên, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. T1 khai biết Nguyễn Đặng Gia H sinh vào ngày 27/3/2011 trước khi quan hệ tình dục với H. Việc quan hệ tình dục là do H tự nguyện.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói niêm phong màu đen, bên ngoài có chữ ký, ghi tên Nguyễn ĐặngGia H1, Đặng Thị Ngọc T4 và hình con dấu của Công an xã T, huyệnBình Chánh. Bên trong có quần áo của Nguyễn Đặng Gia H.
- 01 gói niêm phong màu xanh, bên ngoài có chữ ký, ghi tên Võ Chí T7 hình con dấu của Công an xã T, huyện B. Bên trong có quầnáo của Võ Chí T1.
- 01 phong bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký, ghi tên Võ Chí T1. Bêntrong có 01 điện thoại di động IPhone 6 Plus màu trắng, số máy: MG9V2CL/A, số seri: F2LNHICAG5QK.
- 01 phong bì niêm phong, bên ngoài có xác nhận, chữ ký, ghi tên Phan Thị Kim T5. Bên trong có 01 USB hiệu ADATA chứa 02 video clip ghi nhận việc Võ Chí T1 và Nguyễn Đặng Gia H đến nhà nghỉ H2 thuê phòng và rời đi. Lưu cùng hồ sơ vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển các vậtchứng tại các mục (1), (2) và (3) đến Chi cục Thi hánh án dân sự huyện B quản lý theo quy định.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Đặng Gia H và người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Đặng Thị Ngọc T4 yêu cầu Võ Chí T1 bồi thường 100.000.000 đồng thiệt hại về sức khỏe và tinh thần.
Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-BC ngày 07/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố Võ Chí T1 về tội: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Võ Chí T1 thừa nhận hành vi phạm tội, tự nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật. Phía bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Chí T1 về tội: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Chí T1 từ 04 năm đến 05 năm tù. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
[3] Võ Chí T1 đã 04 lần quan hệ tình dục với Nguyễn Đặng Gia H là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, cụ thể: Vào ngày 11/8/2024 tại nhà nghỉ H2 số G đường số B, khu phố A, thị trấn T, huyện B và từ ngày 13/8/2024 đến ngày 15/8/2024 tại nhà trọ số B ấp I, xã T, huyện B, TP ..
[4] Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Võ Chí T1 đã phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Chí T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + 01 gói niêm phong màu đen, bên ngoài có chữ ký, ghi tên Nguyễn ĐặngGia H1, Đặng Thị Ngọc T4 và hình con dấu của Công an xã T, huyệnBình Chánh. Bên trong có quần áo của Nguyễn Đặng Gia H: Bị hại không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 gói niêm phong màu xanh, bên ngoài có chữ ký, ghi tên Võ Chí T7 hình con dấu của Công an xã T, huyện B. Bên trong có quầnáo của Võ Chí T1: Bị cáo không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 phong bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký, ghi tên Võ Chí T1. Bêntrong có 01 điện thoại di động IPhone 6 Plus màu trắng, số máy: MG9V2CL/A, số seri: F2LNHICAG5QK: Bị cáo dùng để liên với bị hại thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- + 01 phong bì niêm phong, bên ngoài có xác nhận, chữ ký, ghi tên Phan Thị Kim T5. Bên trong có 01 USB hiệu ADATA chứa 02 video clip ghi nhận việc Võ Chí T1 và Nguyễn Đặng Gia H đến nhà nghỉ H2 thuê phòng và rời đi: Tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án.
[7] Về phần dân sự: Trẻ Nguyễn Đặng Gia H không phải mất chi phí để hạn chế, khắc phục thiệt hại; trẻ H đang là học sinh do đó thu nhập thực tế không bị mất hoặc bị giảm sút nên không được bồi thường theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 592 của Bộ luật dân sự. Do bị cáo và gia đình trẻ Nguyễn Đặng Gia H không thỏa thuận được mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần nên mức tối đa trẻ Nguyễn Đặng Gia H được hưởng không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ thì mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng, do đó mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần tối đa trẻ Nguyễn Đặng Gia H được hưởng là: 2.340.000 đồng x 10 tháng = 23.400.000 đồng.
[8] Về án phí: Bị cáo Võ Chí T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Võ Chí T1 phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”;
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Võ Chí T1: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu đen, bên ngoài có chữ ký, ghi tên Nguyễn Đặng Gia H, Đặng Thị Ngọc T4 và hình con dấu của Công an xã T, huyện B.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong màu xanh, bên ngoài có chữ ký, ghi tên Võ Chí T1 và hình con dấu của Công an xã T, huyện B.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động IPhone 6 Plus màu trắng, số máy: MG9V2CL/A, số seri: F2LNHICAG5QK.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh)
+ Tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án 01 phong bì niêm phong, bên ngoài có xác nhận, chữ ký, ghi tên Phan Thị Kim T5. Bên trong có 01 USB hiệu ADATA chứa 02 video clip ghi nhận việc Võ Chí T1 và Nguyễn Đặng Gia H đến nhà nghỉ H3
- Áp dụng Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015,
Buộc bị cáo Võ Chí T1 phải bồi thường số tiền 23.400.000 đồng cho trẻ Nguyễn Đặng Gia H (có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Văn T3, bà Đặng Thị Ngọc T4).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Võ Chí T1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.170.000 đồng (một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Dũng |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Chí Tâm
