|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HSST Ngày: 10-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Quản và ông Mai Đăng Ninh.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 10/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 41/2024/TLST-HS ngày 14/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 26/11/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T - Sinh năm 1992, tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; HKTT: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Mai Thị H1 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 30/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”, tại bản án số 26/2016/HSST, đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 23/01/2019.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/9/2024 đến nay - Có mặt.
Bị hại: Anh Mai Văn D - Sinh năm 1993 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Mai Thị T2 - Sinh năm 1966 - Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Văn T3 - Sinh năm 1995 - Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
2/ Anh Nguyễn Văn B - Sinh năm 1996 - Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
3/ Anh Trần Văn S - Sinh năm 1980 - Địa chỉ: Phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T và anh Mai Văn D (sinh năm 1993, ở thôn L, xã N, huyện N) ở trọ cùng phòng với nhau tại phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Trưa ngày 20/7/2024, sau khi ăn, uống rượu cùng tổ thợ xây tại gia đình ông Vũ Văn T4 (sinh năm 1974, ở xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa), Nguyễn Văn T giao xe mô tô nhãn hiệu Anwen, màu đen, không gắn biển kiểm soát của T cho Mai Văn D để chở T đến quán bia gần phòng trọ ở phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa tiếp tục uống bia. Đến khoảng 22h30' cùng ngày, sau khi uống bia xong, T thấy bản thân đã say, không điều khiển được xe mô tô, mặc dù biết anh D đã uống rượu, bia trước đó cùng với mình nhưng tỉnh táo hơn nên T nói anh D điều khiển xe mô tô chở T về nhà T ở thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, rồi sau đó quay về phòng trọ của mình ở thị xã B nghỉ ngơi để sáng hôm sau đi làm sớm. Khi anh D chở T đi đến km 3+500 tỉnh lộ 527, khu vực cầu Đ thuộc thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, do không có đèn đường, trời tối, anh D lại vừa uống rượu, bia trước đó, nên không chú ý quan sát đường, không làm chủ được tay lái, đã đâm vào dải phân cách cứng bằng bê tông ở giữa cầu, dẫn đến T và anh D bị văng về phía trước, ngã xuống đường, bất tỉnh. Một lúc sau, T tỉnh lại nhìn thấy anh D đang nằm bất động trên mặt đường, vùng đầu chảy nhiều máu nên T sợ, chạy về nhà anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1996 và anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1995 (đều trú tại thôn T, xã N, huyện N) nhờ giúp đỡ đưa T về phòng trọ và đưa anh D đi cấp cứu. Anh T3 điều khiển xe mô tô chở T và anh B ngồi phía sau, đi chuyển trên tỉnh lộ 527 đi về thị xã B để tìm hiệu thuốc, băng bó vết thương cho T. Khi đi qua khu vực cầu Đ, T nói anh T3 và anh B quay lại nơi xảy ra tai nạn đưa anh D đến Bệnh viện đa khoa thị xã B cấp cứu, còn T tự đi về phòng trọ.
Anh D được anh T3 và anh B đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa thị xã B, sau đó chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Bệnh viện H2 điều trị từ ngày 21/7/2024, đến ngày 23/7/2024, gia đình đưa anh D về nhà. Ngày 25/7/2024, anh D tử vong.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, Công an xã N, huyện N đã chuyển nguồn tin đến - trật tự Công an huyện N1 S. Ngày 25/7/2024, sau khi xác minh, Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện N đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiếp nhận tin báo và tiến hành dựng lại hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám phương tiện tham gia giao thông, thu thập tài liệu có liên quan, tạm giữ 01 (một) xe mô tô không gắn biển kiểm soát, nhãn hiệu ANWEN, màu đen, số khung RLIWCHIHY5B000748, số máy VZS152FMH000748, đã qua sử dụng, 01 (một) đăng ký mô tô số 0015018 đối với xe mô tô biển kiểm soát 36L6-1167, mang tên Nguyễn Văn S1.
* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:
3
Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là cầu Đ, tại Km 03 + 500 đường tỉnh lộ 527, đoạn qua thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đoạn qua cầu Đ có hướng Bắc - Nam, được chia thành 02 phần đường, mỗi phần đường rộng 4m, ở giữa có giải phân cách cứng kéo dài từ đầu cầu bên này đến đầu bên kia, cao 0,4m, rộng 2m. Toàn bộ các dấu vết, vị trí phương tiện có liên quan nằm ở phần đường phía đông cầu Đ.
- Lấy mép phía đông thành cầu Đ làm mép chuẩn.
- Vết tì trượt hiện vẫn còn bám dính chất màu đen (ký hiệu 1) nằm ở mặt bên phía đông, đầu phía nam giải phân cách cứng cầu Đ, có chiều hướng N, kích thước (0,7x0,1)m. Vết song song, cao cách mặt đất từ 21 - 31cm. Đầu vết cách mép chuẩn 4,5m. Cuối vết cách mép chuẩn 4,15m;
- Cách cuối vết (1) 5,9m về phía Bắc là vị trí của đầu vết tì trượt (ký hiệu 2) hiện không còn ghi nhận được dấu vết, vết có kích thước (1x0,2)m, đầu vết cách mép chuẩn 3,6m. Cuối vết cách mép chuẩn 3,5m;
- Cách đầu vết (2) 3m về phía Đông (theo hướng vuông góc với thành cầu) là đầu vết cà trượt (ký hiệu 3) hiện không còn ghi nhận được dấu vết, vết dài 1,6m, rộng 01cm. Đầu vết cách mép chuẩn 0,6m. Cuối vết cách mép chuẩn 0,6m;
- Trùng với điểm cuối vết (3) là hình chiếu của trục trước xe mô tô không gắn biển kiểm soát (ký hiệu 4) lên mặt dường. Xe mô tô đổ nghiêng về bên trái tì vào thành cầu, đầu xe quay hưóng N, đuôi xe quay hướng Bắc. Trục sau xe mô tô cách mép chuẩn 0,3m;
- Cách trục sau xe mô tô (4) 7,6m về phía Bắc là vị trí tâm vết máu (ký hiệu 5). Vết máu trên nền đuờng có kích thướe (1,5x0,7)m. T5 vết cách mép chuẩn 2m.
* Tại biên bản khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu ANWEN, màu đen, không gắn biển số, số khung: RLIWCHIHY5B000748, số máy: VZS152FMH000748 thể hiện:
Đèn pha phía trước; đèn xin nhan bên phải phía trước đầu; đèn xin nhan bên trái phía trước; ốp nhựa đèn xin nhan phía trước bị bung bật khỏi vị trí ban đầu; chân gương chiếu hậu bên phải có vết cà trượt, làm lộ lớp kim loại màu trắng bên trong, KT (2x2cm), chiều hướng từ truớc về sau; mặt nạ phía trước của xe có vết cà trượt, làm lộ lớp nhựa màu đen, KT (10x8cm);
Cánh yếm bên phải bị vỡ, KT (20x3cm); cánh yếm bên trái bị bung khỏi vị trí ban đầu; đầu dè chắn bùn bánh trước bị nứt vỡ, KT (26x15cm); cuối dè chắn bùn bánh trước bị nứt vỡ, KT (15x10cm); vành bánh trước bị cong đẩy, biến dạng có chiều hướng từ ngoài vào trong, KT (17x2cm); ốp kim loại bảo vệ hộp máy bên trái bị nứt vỡ, để lộ các chi tiết máy bên trong, KT (8x12cm), điểm thấp nhất cách mặt đất 15cm; cần số của xe bị cong đẩy theo hướng từ trước về sau; giá để chân người lái bên trái bị cong, đẩy theo hướng từ trước về sau.
Ngoài ra, không còn dấu vết nào khác.
* Tại Biên bản khám nghiệm tử thi thể hiện:
4
+ Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
- - Xây xước da không rõ hình, không liên tục, trong diện: 15cm x 12cm vùng đỉnh trái, thái dương trái, chẩm trái, gò má trái; bề mặt vết khô, đóng vảy.
- - Bầm tụ máu không rõ hình, trong diện: 14cm x 5,5cm sau vành tai trái, cổ bên trái.
- - Xây xước da không rõ hình, kích thước: 6cm x 2,5cm trên sau vai phải; bề mặt vết khô, đóng vảy.
- - Xây xước da không rõ hình, kích thước: 8cm x 4cm mặt sau vai trái; bề mặt vết khô, đóng vảy.
- - Xây xước da không rõ hình, kích thước: 12cm x 6cm vùng lưng trái, thắt lưng trái; bề mặt vết khô, đóng vảy.
- - Xây xước da không rõ hình, kích thước: 6cm x 5cm gối phải và mặt trong 1/3 trên cẳng chân phải; bề mặt vết khô, đóng vảy.
- - Xây xước da không rõ hình, không liên tục, kích thước: 20cm x 5cm lòng trong chân phải và mặt mu các ngón cái, trỏ, giữa bàn chân phải; bề mặt vết khô, đóng vảy.
- - Xây xước da không rõ hình, kích thước: 3,5cm x 4,5cm gối trái; bề mặt vết khô, đóng vảy.
- - Xây xước da, bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục, trong diện: 12cm x 6cm mắt cá ngoài chân trái, gót chân trái và má ngoài bàn chân trái; bề mặt vết khô, đóng vảy.
+ Mổ tử thi:
- - Vùng đầu: Tổ chức dưới da đầu vùng trán thái dương đỉnh chẩm hai bên tụ, ngấm máu diện rộng. Cơ thái dương hai bên tụ máu một phần. Vỡ xương hộp sọ theo đường khớp trán đỉnh hai bên và đường khớp liên đỉnh. Vỡ xương hộp sọ vùng trán.
- - Mở hộp sọ: Màng cứng không bị rách. Tụ máu dưới màng cứng diện rộng bán cầu đại não hai bên. Xuất huyết khoang dưới nhện bán cầu đại não hai bên. Tổ chức não phù. Não thất bên chứa dịch hồng.
Ngày 25/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ban hành Quyết định số 315/QĐ-ĐTTH, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định xác định nguyên nhân chết của anh Mai Văn D.
Tại kết luận giám định số 3093/KLGDTT - PC09 ngày 26/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của anh Mai Văn D là: Chấn thương sọ não.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 21/7/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T xét nghiệm nồng độ cồn của anh Mai Văn D thể hiện: định lượng E là 49.6mg/dL.
Ngày 29/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N có công văn số 331/CV-ĐTTH gửi Sở G để tra cứu giấy phép lái mô tô của anh Mai Văn D. Ngày
5
15/8/2024, Sở G có công văn số 4916/SGTVT-QLPT&NL xác nhận Mai Văn D chưa có giấy phép lái xe.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Mai Thị T2 đại diện gia đình anh Mai Văn D yêu cầu Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 87.232.000đ (tám mươi bảy triệu hai trăm ba hai nghìn đồng), gồm: chi phí cấp cứu điều trị tại các cơ sở y tế là 20.732.000đ; chi phí mai táng là 36.500.000đ (chi phí có hoá đơn, tài liệu hợp pháp); bồi thường tổn thất tỉnh thần là 30.000.000đ; Ngoài ra, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về vật chứng đã thu giữ và biện pháp xử lý: Cơ quan CSĐT đã xác minh nguồn gốc chiếc xe mà T đã giao cho anh D điều khiển, có biển kiểm soát 36L6-1167 là xe của anh Nguyễn Văn S1 (sinh năm 1983, ở phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Anh S1 cho anh Mai Tiến T6 (là em rể), sinh năm 1996, ở Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó, anh T6 cho T (là em vợ của anh T6) mượn làm phương tiện để đi làm, nhưng do ốc vít long nên đã rơi mất biển kiểm soát. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại chiếc xe và giấy tờ có liên quan cho anh T6.
Vật chứng còn lại: Không.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 47/CT-VKSNS ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được Quyết định thi hành án; không áp dụng hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 591 BLDS: Buộc bị cáo T phải bồi thường cho đại diện gia đình anh Mai Văn D các khoản sau: Chi phí cấp cứu điều trị tại các cơ sở y tế là 20.732.000đ; chi phí mai táng là 32.500.000đ; bồi thường tổn thất tinh thần từ 05 đến 10 lần mức lương cơ sở (11.700.000₫ đến 23.400.000₫), bị cáo đã tự nguyện bồi thường được 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng), số tiền còn lại buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho đại diện gia đình anh D.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên yêu cầu bồi thường tổng số tiền 87.232.000đ, bị cáo đã bồi thường được 25.000.000đ, số tiền còn lại buộc bị cáo phải bồi thường tiếp. Về hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh:
Khoảng 22h30" ngày 20/7/2024, Nguyễn Văn T biết anh Mai Văn D đã sử dụng rượu bia (định lượng Ethanol trong máu của anh D là 49.6mg/dL) và không biết anh D có giấy phép lái xe hay không, nhưng vẫn giao xe mô tô nhãn hiệu Anwen, màu đen, biển kiểm soát 36L6-1167 cho anh Mai Văn D điều khiển để chở T đi từ xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đến phòng trọ ở thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Khi đi đến km 3+500 tỉnh lộ 527, khu vực cầu Đ thuộc thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa do đã sử dụng rượu, bia, nên anh D không chú ý quan sát đường đi, không làm chủ được tay lái, đã đâm vào dải phân cách cứng bằng bê tông ở giữa cầu. Hậu quả anh D bị thương tích phải đi cấp cứu và điều trị tại các cơ sở y tế, đến ngày 25/7/2024 thì tử vong.
Hành vi của Nguyễn Văn T giao xe cho anh Mai Văn D, là người không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Do đó, lỗi thuộc về Nguyễn Văn T và bị cáo T đã phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện hành vi phạm tội khi có đủ năng lực hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, trật tự an toàn xã hội và sức khỏe của người khác nên cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ TNHS sau: người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
7
[5] Về hình phạt chính:
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại. Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy, cần xem xét áp dụng Điều 36 BLHS phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
[6] Về hình phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Điều 264 BLHS và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng cộng các khoản là 87.232.000đ (tám mươi bảy triệu hai trăm ba hai nghìn đồng), gồm: chi phí cấp cứu điều trị tại các cơ sở y tế là 20.732.000đ; chi phí mai táng là 36.500.000đ; bồi thường tổn thất tỉnh thần là 30.000.000đ.
Xét thấy, các khoản chi phí cấp cứu điều trị tại các cơ sở y tế là 20.732.000đ, có hoá đơn, tài liệu hợp pháp. Theo quy định tại Điều 590 BLDS và Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NĐ-HĐTP ngày 06/9/2022, đây là những khoản chi phí hợp lý, nên được chấp nhận.
Đối với khoản chi phí mai táng là 36.500.000₫ gồm: Dịch vụ tang lễ 15.250.000đ; hỏa táng + quan quách 10.950.000đ; tổng cộng là 26.200.000đ, là những khoản có hóa đơn. Còn các khoản: Trống kèn 4.300.000đ; rạp + bàn ghế 2.000.000đ; nhờ người mua chi phí 3.000.000đ; chi phí đi lại ăn uống 1.000.000đ; tổng cộng là 10.300.000đ, là những khoản không có hóa đơn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 591 BLDS và Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NĐ-HĐTP ngày 06/9/2022, HĐXX chỉ có thể chấp nhận các khoản: Dịch vụ tang lễ 15.250.000đ; hỏa táng + quan quách 10.950.000đ; trống kèn 4.300.000đ; rạp + bàn ghế 2.000.000đ; tổng cộng là 32.500.000đ. Các khoản còn lại tổng cộng là 4.000.000đ, không được chấp nhận.
Đối với khoản bồi thường tổn thất tỉnh thần là 30.000.000đ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 591 BLDS, HĐXX chỉ chấp nhận cho người đại diện hợp pháp của bị hại với mức 12 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định, cụ thể: 12 tháng x 2.340.000₫ = 28.080.000₫.
Như vậy, tổng các khoản được HĐXX chấp nhận là 81.312.000đ (tám mươi mốt triệu ba trăm mười hai nghìn đồng). Chấp nhận bị cáo T đã bồi thường số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng), bị cáo T còn phải bồi thường tiếp số tiền 56.312.000đ (năm mươi sáu triệu ba trăm mười hai nghìn đồng) cho gia đình bị hại là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36L6-1167 là xe của anh Nguyễn Văn S1. Anh S1 cho anh Mai Tiến T6 (là em rể). Sau đó, anh T6 cho T (là em vợ của anh T6) mượn làm phương tiện để đi làm, nhưng do ốc vít long nên đã rơi mất biển kiểm soát. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại chiếc xe và giấy tờ có liên quan cho anh T6 là đúng quy định, nên miễn xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa nhận được Quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; các điều 584, 585, 586, 590, 591 BLDS; Điều 7 và Điều 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường tiếp số tiền 56.312.000đ (năm mươi sáu triệu ba trăm mười hai nghìn đồng) cho người đại diện hợp pháp của bị hại.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 2.815.600đ (hai triệu tám trăm mười lăm nghìn sáu trăm đồng) án phí DSST. Tổng cộng án phí bị cáo phải nộp là 3.015.600đ (ba triệu không trăm mười lăm nghìn sáu trăm đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
8
|
Nơi nhận:
9 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 42/2024/HSST ngày 10/12/2024 của Tòa án Nhân dân Huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hóa về hình sự: giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 42/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án Nhân dân Huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T bị xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Giao cho người không đủ điều kiện ĐK phương tiện tham gia GTĐB" theo khoản 1 Điều 264 BLHS.
