|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
|
Bản án số: 42/2024/HS-PT Ngày 15-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Vũ Văn Túc |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Mạnh Hùng |
| Bà Hoàng Ngọc Liễu |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Thư ký Tòa án.
oòa Binhình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/HSPT ngày 04 tháng 11 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Bùi Trọng C, Nguyễn Văn T, Trần Văn T1, Dương Đức T2 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Hòa Bình.
Các bị cáo có kháng cáo, không bị kháng nghị:
-
Nguyễn Thị N, sinh ngày 06/12/1988; Nơi cư trú: Xóm P, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn T3 (đã chết) và bà Trần Thị K; Chồng là Nguyễn Duy H; Có 02 con. Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2024 đến ngày 18/6/2024. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
-
Bùi Phú V, sinh ngày 07/3/1981. Nơi cư trú: Xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Bùi Phú L và bà Quách Thị T4, có vợ là: Đinh Thị B; Có 03 con.
Bị cáo là Đảng viên Đ hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 101/QĐ/UBKTHU ngày 12/9/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy huyện G, tỉnh Ninh Bình. Tiền án, tiền sự: không.
Bị Cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/6/2024 đến ngày 18/6/2024. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
-
Bùi Trọng C, sinh ngày 18/11/1978; Nơi cư trú: Xóm M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Đức M và bà Nguyễn Thị Thu H1; Có vợ là Bùi Thị N1; Có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 09/6/2024 đến ngày 18/6/2024. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
-
Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/9/1983; Nơi cư trú: Khu phố Y, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N2 có vợ là Nguyễn Thị Trinh L1; Có 02 con. Tiền sự: không.
Tiền án: 01 tiền án (bản án số 45/2019/HSST ngày 20/12/2019 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình xử phạt Nguyễn Văn T 42 tháng tù về tội “Đánh bạc”).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2024 đến ngày 18/6/2024. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
-
Trần Văn T1, sinh ngày 15/10/1976; Nơi cư trú: khu phố C, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Trần Ngọc T5 và bà Vũ Thị T6 có vợ là Hà Thị H2, Có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2024 đến ngày 18/6/2024. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
-
Dương Đức T2, sinh ngày 15/4/1987; Nơi cư trú: xóm L, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Dương Đình C1 và bà Bùi Thị L2 có vợ là Bùi Thị L3; Có 02 con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/6/2024 đến ngày 18/6/2024. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị; Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 09/6/2024, Dương Thị Lệ T7 đi xe bus từ nhà lên nhà của Nguyễn Thị N để làm việc tại cơ sở kinh doanh dịch vụ làm đẹp (S) của N. Khi đến nơi, T7 ngồi nói chuyện với N và H (chồng của N) một lúc thì H rủ T7 chơi bài lá (bộ bài 52 quân) nhưng chỉ chơi vui chứ không được thua bằng tiền. Một lúc sau có Trần Văn T1 điều khiển xe ô tô đi đến nhà N chơi. Thấy có người đến, N sử dụng điện thoại di động nhắn tin qua ứng dụng zalo rủ Bùi Phú V là “lên không shop”; V tự hiểu là lên để đánh bạc nên đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, V đến nhà N. Tiếp đó Bùi Trọng C đến nhà N chơi. Tại đây, T1, T7, V và C rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm ngay tại nền gạch khu vực phòng khách của nhà N, còn H không chơi nên đi vào trong phòng nằm. Cả 4 người thống nhất luật chơi theo cách đánh phỏm với cách thức như sau: Bộ bài 52 (Năm mươi hai) quân sẽ chia đều cho bốn người, mỗi người 09 (Chín) lá bài, riêng người đánh đầu tiên được chia 10 lá bài, các lá bài còn lại sẽ xếp chồng để giữa chiếu cho mọi người lần lượt bốc và đánh xoay vòng cho đến khi hết bài. Ván bài kết thúc khi có người “Ù”, nếu không có ai “Ù” thì hạ “Phỏm” tính điểm. Sau khi ván bài kết thúc, mỗi người sẽ tính điểm của mình bằng cách cộng điểm của các quân bài lại với nhau, ai có số điểm ít nhất là người thắng. Điểm được tính từ 01 đến 13 tương ứng với các lá bài: Lá bài có chữ A là 01 điểm, lá bài có số từ 02 đến 10 tính theo số trên bài, lá bài có chữ J là 11 điểm, chữ Q là 12 điểm và chữ K là 13 điểm. “Phỏm” là phải có từ 03 lá bài trở lên cùng chất hoặc cùng số, chữ với nhau. Cách thức được thua bằng tiền được 04 người thỏa thuận thống nhất như sau: Người về bét (thứ 4) là người có tổng điểm trên bài cao nhất thì thua số tiền: 30.000 đ (ba mươi nghìn đồng), người về ba là người có tổng điểm trên bài cao thứ hai thì thua số tiền: 20.000 đ (hai mươi nghìn đồng), người nhì là người có tổng điểm trên bài cao thứ ba thì thua số tiền: 10.000 đ (mười nghìn đồng), người về nhất là người có tổng điểm trên bài thấp nhất sẽ được hết số tiền của 3 (Ba) người chơi trong ván, người bị “cháy” (hay còn gọi là “Móm”, tức là không có “Phỏm”) sẽ bị thua số tiền 40.000 đ (bốn mươi nghìn đồng), người nào bài “Ù” sẽ thắng mỗi người chơi còn lại số tiền 50.000 đ (năm mươi nghìn đồng). Trong lúc T1, T7, V và C đang đánh bạc thì N tiếp tục sử dụng điện thoại di động nhắn tin cho Nguyễn Văn T rủ T lên nhà N để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, những người chơi lấy tiền từ trong chiếu bạc ra 150.000 đồng đưa cho N để N đi mua đồ nấu cho tất cả cùng ăn trưa.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày khi T1, T7, V và C đang đánh bạc thì T đến, ngay sau đó Nguyễn Khắc D đến nhà N chơi và ngồi xem các đối tượng trên đánh bạc, một lúc sau Dương Đức T2 cũng đến. Lúc này thấy có đông người nên tất cả cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh L4. Tất cả thống nhất luật chơi bài Liêng với mức đặt cược ban đầu (đóng gà) là 20.000 đồng, người chơi sau khi xem bài thì được tố với mức tiền cao nhất không quá 100.000 đồng. Cứ như vậy, những người trên đánh với nhau liên tục hết lượt này đến lượt khác. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày có Đinh Văn P đến và cùng tham gia đánh bạc. Khoảng 5 phút sau thì có Bùi Văn K1 cũng đến nhà N và tham gia đánh bạc cùng với những người này. Quá trình đánh bạc những người chơi lấy 80.000 đồng trên chiếu bạc đưa cho N đi mua hoa quả cho tất cả cùng ăn. Một lúc sau V và T1 không chơi nữa nên đứng dậy ra ghế ngồi uống nước, sau đó T7 thua hết tiền nên cũng đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Công an huyện Y đến kiểm tra. Do cửa nhà Nguyễn Thị N vẫn đang khoá trong nên các đối tượng đã tận dụng thời gian cất giấu tiền vào trong người, thu dọn những bộ bài sử dụng để đánh bạc sau đó mới mở cửa cho lực lượng Công an vào kiểm tra. Lúc này T, P, K1 và T2 đi ra cửa sau rồi bỏ trốn còn lại N, T1, V, C và D có mặt tại hiện trường.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2024/HS-ST ngày 29/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình quyết định:
Tuyên bố các Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T, Bùi Phú V, Bùi Trọng C, Trần Văn T1, Dương Đức T2, Bùi Văn K1, Nguyễn Khắc D, Dương Thị Lệ T7 và Đinh Văn P phạm tội “Đánh bạc”
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm i khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 12 (Mười hai) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm i khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Phú V 11 (Mười một) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm i khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Trọng C, Trần Văn T1 và Dương Đức T2.
Xử phạt bị cáo Bùi Trọng C, Trần Văn T1 và Dương Đức T2 mỗi bị cáo 08 (tám) tháng tù.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với 04 bị cáo còn lại, quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Bùi Trọng C, Trần Văn T1, Dương Đức T2 kháng cáo xin được hưởng án treo và xin miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thời hạn và thủ tục kháng cáo của các bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng trình tự theo quy định;
Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T, Bùi Phú V, Bùi Trọng C, Trần Văn T1, Dương Đức T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên toà ngày hôm nay: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về việc bản thân đã không thành khẩn tại phiên toà xét xử sơ thẩm và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản án hình sự sơ thẩm của TAND huyện Yên Thuỷ đã nêu. Ngoài ra các bị cáo còn giao nộp thêm các tài liệu mới, cụ thể:
- Bị cáo Bùi Trọng C đã tự nguyện nộp một phần hai số tiền của hình phạt bổ sung của bản án sơ thẩm là 6.000.000đ và có ông nội là Bùi Văn K2 đã có thời gian tham gia dân công hoả tuyến.
- Bị cáo Dương Đức T2 đã tự nguyện nộp một phần hai số tiền của hình phạt bổ sung và án phí của bản án sơ thẩm là 6.200.000đ là hình phạt bổ sung và án phí của bản án sơ thẩm và có ông nội được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ giải phóng.
- Bị cáo Trần Văn T1 đã tự nguyện nộp số tiền 12.200.000đ là hình phạt bổ sung và án phí của bản án sơ thẩm và Kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển sinh vật cảnh do Ban tặng.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ vụ án và các tình tiết mới tại cấp phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2, Bùi Trọng C, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 29/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình, theo hướng:
Đối với bị cáo Nguyễn Thị N: Về phần hình phạt vẫn giữ nguyên mức hình phạt 12 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.
Đối với bị cáo Bùi Phú V: Về phần hình phạt vẫn giữ nguyên mức hình phạt 11 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 22 tháng.
Đối với bị cáo Bùi Trọng C, Trần Văn T1, Dương Đức T2: Về phần hình phạt vẫn giữ nguyên mức hình phạt mỗi bị cáo 08 tháng tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng.
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 29/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ xử phạt bị cáo T 12 tháng tù giam.
Không chấp nhận kháng cáo đề nghị miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo nêu trên.
Các bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định các bị cáo có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
[2]. Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của các đồng phạm khác cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 00 phút đến 16 giờ 00 phút ngày 09/6/2024 tại nhà của Nguyễn Thị N, các bị cáo Bùi Phú V, Bùi Trọng C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khắc D, Trần Văn T1, Dương Đức T2, Bùi Văn K1, Dương Thị Lệ T7 và Đinh Văn P đã có hành vi đánh bạc sát phạt được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Phỏm” và đánh “Liêng”. Quá trình này Nguyễn Thị N sử dụng số tiền 230.000đ trong số tiền các bị cáo đánh bạc để nấu cơm cũng như mua hoa quả cho tất cả cùng ăn đồng thời nhắn tin rủ Bùi Phú V và Nguyễn Văn T đến nhà N để đánh bạc, đối với Bùi Văn K1 chủ động gọi điện đến hỏi N có ai đánh bạc không để K1 đến chơi. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 10.940.000đ (Mười triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng), trong đó bao gồm cả số tiền 230.000đ các bị cáo đưa cho bị cáo N để nấu cơm và mua hoa quả.
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án, vai trò, nhân thân của từng bị cáo; xét xử các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T, Bùi Phú V, Bùi Trọng C, Trần Văn T1, Dương Đức T2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:
Đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Bùi Phú V có bố là ông Bùi Phú L là bệnh binh, hiện đang hưởng chế độ thương bệnh binh, bản thân bị cáo năm 2011 được Cục thống kê tỉnh N tặng Giấy khen, bị cáo Nguyễn Văn T có bổ đẻ là ông Nguyễn Văn B1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo Trần Văn T1 năm 2019 được Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố H vinh danh và có bố là ông Trần Ngọc T5 là người có công với cách mạng, bị cáo Đinh Văn P có bố đẻ là ông Đinh Văn V1 được Chủ tịch UBND tỉnh H tặng Bằng khen vì có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo; Các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Trọng C, Trần Văn T1, Dương Đức T2 có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho các bị cáo.
Các tài liệu mới do bị cáo Bùi Trọng C nộp: Biên lai do Chi cục Thi hành án dân sự tạm thu của bị cáo đã nộp số tiền 6.000.000đ đối với hình phạt bổ sung của bản án sơ thẩm; Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến của Bộ 1 đối với ông Bùi Văn K2 – ông nội của bị cáo; Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo
Các tài liệu mới do bị cáo Dương Đức T2 nộp: Biên lai do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Thủy về tạm thu của bị cáo nộp số tiền 6.000.000đ là tiền phạt bổ sung và 200.000đ án phí sơ thẩm; Huy chương chiến sĩ giải phóng của ông Dương Đình C1, là bố đẻ của bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo
Các tài liệu mới do bị cáo Trần Văn T1 nộp: Biên lai do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Thủy về tạm thu của bị cáo nộp số tiền 12.200.000đ, đối với hình phạt bổ sung và án phí sơ thẩm, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật, ăn năn hối cải; Huy chương chiến sĩ giải phóng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển sinh vật cảnh của bị cáo Trần Văn T1. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Xét các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Bùi Trọng C, Trần Văn T1, Dương Đức T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng.
Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Xét các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Trọng C, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Đinh Văn P có đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo có 01 tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích vì vậy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm căn cứ điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tuy nhiên mức án 12 tháng tù của Toà án cấp sơ thẩm đối với bị cáo là đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo. Đối chiếu với quy định của Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của TANDTC, hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, xét bị cáo T có nhân thân xấu, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, vì vậy bị cáo T thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.
Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật. Giữ nguyên mức hình phạt 12 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Đối với kháng cáo xin miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền của các bị cáo không được xem xét chấp nhận.
[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận một phần kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 29/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C;
1.Về tội danh và hình phạt, điều luật áp dụng:
*Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C, phạm tội “Đánh bạc”.
*Về hình phạt, Điều luật áp dụng:
-Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo:
- Nguyễn Thị N 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bùi Phú V 11 (Mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Trần Văn T1 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Dương Đức T2 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bùi Trọng C 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị N, Dương Đức T2 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Bùi Phú V cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Bùi Trọng C cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trần Văn T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 29/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình đối với bị cáo T, cụ thể:
*Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
*Về hình phạt, Điều luật áp dụng
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù được trừ thời gian tạm giữ là 04 (bốn) ngày, còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Hình phạt bổ sung:
- Không chấp nhận kháng cáo xin miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo: Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2, Bùi Trọng C và Nguyễn Văn T.
-Xác nhận các bị cáo:
- Trần Văn T1 đã nộp đủ số tiền phạt 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) sung ngân sách nhà nước, và 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000940 ngày 07/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình.
- Bị cáo Dương Đức T2 đã nộp số tiền phạt 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) sung ngân sách nhà nước và 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000941 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình; Bị cáo T2 còn phải nộp số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
- Bị cáo Bùi Trọng C đã nộp số tiền phạt 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) sung ngân sách nhà nước, theo biên lai thu tiền số 0000942 ngày 14/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình; Bị cáo C còn phải nộp 6.000.000đ(Sáu triệu đồng).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Túc |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
| Hoàng Ngọc Liễu | Nguyễn Mạnh Hùng | Vũ Văn Túc |
Bản án số 42/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 42/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 29/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Bùi Phú V, Trần Văn T1, Dương Đức T2 và Bùi Trọng C
