Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 42/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 - 11 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Thế Công.

Ông Đinh Văn Vợi.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2024/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Hồ Thị C, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 25/9/2024, bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn anh Lê Văn T trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn chị Hồ Thị Chung kết H ngày 06/4/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N (nay là xã T), huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm, tính tình không hợp. Từ năm 2020 đến nay, chị Hồ Thị C về sinh sống tại tỉnh Bình Thuận, vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nguyên đơn thấy không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu được ly hôn với chị Hồ Thị C. Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Lê Hoài Phương V, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2012; Lê Hoài Lương N, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2016 và Lê Gia B, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2016. Vợ chồng ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung Lê Hoài Lương N và Lê Gia B đến khi trưởng thành; giao con chung Lê Hoài Phương V cho chị Hồ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Nguyên đơn không yêu cầu chị Hồ Thị C cấp dưỡng nuôi các con chung. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai đề ngày 21/10/2024, bị đơn chị Hồ Thị C xác định thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn giống nguyên đơn trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau. Từ năm 2020 đến nay, vợ chồng không chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau. Bị đơn thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với anh Lê Văn T. Về con chung: Vợ chồng có ba con chung như nguyên đơn trình bày. Vợ chồng ly hôn, bị đơn đồng ý giao các con chung Lê Hoài Lương N và Lê Gia B cho anh Lê Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lê Hoài Phương V đến khi trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản chung: Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp. Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục tống đạt đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng trình tự theo quy định từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tình cảm: Anh Lê Văn T được ly hôn chị Hồ Thị C. Về con chung: Giao các con chung Lê Hoài Lương N, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2016 và Lê Gia B, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2016 cho anh Lê Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung Lê Hoài Phương V, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2012 cho chị Hồ Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền: Nguyên đơn anh Lê Văn T yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung với bị đơn chị Hồ Thị C, cư trú tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nhưng nguyên đơn và bị đơn đã tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn giải quyết. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lê Văn T và bị đơn chị Hồ Thị C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 15 - 2012, ngày 06 tháng 4 năm 2012 của UBND xã N (nay là xã T), huyện N, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C đều thống nhất thừa nhận: Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau nên từ năm 2020 đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy Lê Văn T và chị Hồ Thị C không còn chung sống với nhau, không quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C đều có nguyện vọng ly hôn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T được ly hôn chị Hồ Thị C.

[2.2]. Về con chung: Anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C thống nhất khai có ba con chung là Lê Hoài Phương V, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2012, Lê Hoài Lương N, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2016 và Lê Gia B, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2016. Trong thời gian vợ chồng không chung sống với nhau, các con chung Lê Hoài Lương N và Lê Gia B do anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng tại xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; con chung Lê Hoài Phương V do chị Hồ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Các con chung phát triển bình thường, học tập ổn định. Anh Lê Văn T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung Lê Hoài Lương N và Lê Gia B; giao con chung Lê Hoài Phương V cho chị Hồ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Hồ Thị C đồng ý với yêu cầu của anh Lê Văn T. Các con chung Lê Hoài Lương N và Lê Gia B có nguyện vọng sống cùng bố; con chung Lê Hoài Phương V có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao các con chung Lê Hoài Lương N và Lê Gia B cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi; giao con chung Lê Hoài Phương V cho chị Hồ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, của các con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C đều trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên. Khi có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc khởi kiện vụ án về yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

[2.4]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn anh Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[4]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C.
  2. Về nuôi con chung: Giao các con chung Lê Hoài Lương N, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2016 và Lê Gia B, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2016 cho anh Lê Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung Lê Hoài Phương V, sinh ngày 01 tháng 3 năm 2012 cho chị Hồ Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lê Văn T và chị Hồ Thị C do hai bên không yêu cầu. Khi có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc khởi kiện vụ án về yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
  4. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
  5. Về án phí: Buộc anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001738, ngày 14 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Anh Lê Văn T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lài

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 42/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Văn T yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung với chị Hồ Thị C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger