TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2024/HS - ST
Ngày 27 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Cao Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai (Thủ tục rút gọn) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Thanh L, sinh ngày 08/01/1999, tại xã Thạch H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn Hà N, xã Thạch H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh X và bà Trần Thị H; có vợ là Quách Thị Vân và chưa có con; nhân thân: Ngày 06/01/2015 bị Công an thị trấn Đồng Lê, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 08/6/2016 bị Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2016/HS - ST ngày 08/6/2016; Ngày 01/9/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2016/HS - ST ngày 01/9/2016; Ngày 25/10/2018 bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2018/HS - ST ngày 25/10/2018; Ngày 15/9/2020 bị Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2020/HS – ST ngày 15/9/2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Xuân K, xã Quảng X, huyện Quảng T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Chí P, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Xuân K, xã Quảng X, huyện Quảng T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/10/2024, Lê Thanh L đi bộ một mình từ ngã tư Ba Đồn theo đường Quốc lộ 1A theo hướng Nam - Bắc dọc đường tìm nhà nào sơ hở thì đột nhập trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài cá nhân. Phát hiện nhà anh Nguyễn Chí Phương không khóa cổng và không có người, trong sân nhà có 02 chiếc xe mô tô, Long lẻn vào sân đi đến xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn xanh xám, BKS: 73E1-261.00 (xe của anh Nguyễn Ngọc N là em trai anh Phương), có sẵn chìa khóa đang cắm trên ổ khóa xe. L dắt trộm xe ra theo hướng cổng được khoảng 02 đến 03 mét thì bị anh Nguyễn Chí P phát hiện tri hô, lúc đó anh Nguyễn Ngọc Nam cùng nghe thấy liền đuổi theo. L để lại xe mô tô bỏ chạy ra đường Quốc lộ 1A được khoảng 300m thì bị người dân bắt giữ, báo Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Quảng Trạch kết luận 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn xanh xám, BKS 73E1-261.00, số khung 0610FY160197; số máy G3D4E173102, đã qua sử dụng, có giá trị 13.000.000₫ (Mười ba triệu đồng).
Về vật chứng và xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ và đã xử lý trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Ngọc Nam 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn xanh xám, BKS 73E1-261.00, số khung 0610FY160197; số máy G3D4E173102, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Ngọc Nam đã nhận lài tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự của vụ án.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐTT - VKSQT ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Lê Thanh Long về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Long phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
3
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh Long từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/10/2024.
- Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thanh Long chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh Long nhất trí như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố và Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, về phần dân sự đã giải quyết xong, sự vắng mặt của bị hại và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.
[2] Về tội danh:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thanh L đều thống nhất khai nhận hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với hiện trường nơi xảy ra vụ án; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; các vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/10/2024 Lê Thanh L đi bộ một mình từ ngã tư Ba Đồn theo đường Quốc lộ 1A hướng Nam - Bắc mục đích tìm nhà nào sơ hở đột nhập trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài cá nhân. Long đi bộ dọc đường Quốc lộ 1A đến thôn Xuân Kiều, xã Quảng Xuân,
4
huyện Quảng Trạch phát hiện cổng nhà anh Nguyễn Chí Phương không khoá nên đã lợi dụng sơ hở của bị hại lén lút đột nhập lấy trộm 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn xanh xám, BKS 73E1 - 261.00, số khung 0610FY160197; số máy G3D4E173102 đã qua sử dụng của anh Nguyễn Ngọc N có giá trị là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) thì bị bắt quả tang. Do vậy, Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Lê Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi mà bị cáo Lê Thanh Long đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Lê Thanh Long là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng chỉ vì để thoả mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo Long đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Vì vậy, cần xét xử nghiêm đối với bị cáo và áp dụng hình phạt tương xứng nhằm giáo dục, răn đe, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thanh Long không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh Long thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Ngày 06/01/2015 bị Công an thị trấn Đồng Lê, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 08/6/2016 bị Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2016/HS - ST ngày 08/6/2016; Ngày 01/9/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2016/HS - ST ngày 01/9/2016; Ngày 25/10/2018 bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2018/HS - ST ngày 25/10/2018; Ngày 15/9/2020 bị Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2020/HS – ST ngày 15/9/2020. Bị cáo Lê Thanh Long không lấy các lần phạm tội trên làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính nên không phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Ngoài ra, bị cáo đáp ứng các điều kiện theo quy
5
định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự nên đương nhiên được xóa án tích, do đó thuộc trường hợp có nhân thân xấu.
[5] Về hình phạt:
Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải xử lý nghiêm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, để xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Ngọc N 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn xanh xám, BKS 73E1-261.00, số khung 0610FY160197; số máy G3D4E173102, đã qua sử dụng. Anh Nguyễn Ngọc N đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Ngọc N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu về phần dân sự của vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Lê Thanh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền kháng cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 30/10/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Thanh L 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
6
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thanh L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/11/2024); Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định, để yêu cầu xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Anh Tuấn |
Bản án số 42/2024/HS - ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh L "Trộm cắp tài sản"
