Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÕ NHAI

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày 21/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Xuân và ông Nguyễn Thành Nhật.

Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Hoàng, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 06/11/2024, đối với các bị cáo:

1. Lộc Đình T, tên gọi khác: không; sinh ngày 15/7/1978, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Đình T1 và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Hoàng Thị Minh T2, có 02 con.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay, có mặt.

2. Hoàng Quốc Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày 21/01/1991, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T3 và bà Lê Thị T4; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại bản án số 127/2021/HSST ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 27/02/2022.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị Minh T2, sinh năm 1984, nơi cư trú: xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, có mặt;

- Người làm chứng:

  • + Anh Lục Hải S, sinh năm 1993, nơi cư trú: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
  • + Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1992, nơi cư trú: xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;

- Người chứng kiến:

  • + Ông Hà Văn T5, sinh năm 1968, nơi cư trú: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
  • + Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1974, nơi cư trú: xóm X, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lộc Đình T là người nghiện chất ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định, nên T nảy sinh ý định mua ma tuý để bán lại kiếm lời. Khoảng đầu tháng 6 năm 2024, T một mình đến khu vực chợ Đ2 thuộc thành phố T để tìm mua ma túy. Tại đây T đã mua ma túy của một người đàn ông không quen biết, T không nhớ mua với số lượng và số tiền là bao nhiêu. Sau khi mua được ma tuý, T đem về nhà chia thành 09 gói nhỏ để bán cho những người nghiện ma tuý. Đến ngày 04/6/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 20D1-040.30 mang theo 09 gói ma tuý để trong chiếc ba lô giả da màu nâu của T đến khu vực xã L để bán số ma túy trên. Khi đi đến khu vực cầu R thuộc xóm Đ, xã L, huyện V, T gặp Hoàng Quốc Đ đang đi bộ trên đường. Tại đây, T đã bán cho Đ 09 gói ma tuý với giá 1.800.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Đ cất trong túi quần phía trước bên trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi Đ đi đến khu vực đường bê tông xóm Đ, xã T, huyện V thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang và thu giữ 09 gói ma tuý niêm phong theo quy định. Ban đầu Đ không khai nhận nguồn gốc số ma túy trên là mua của Lộc Đình T, đến ngày 24/6/2024 Đ đã khai nhận nguồn gốc số ma tuý trên Đ mua của Lộc Đình T.

Đối với Lộc Đình T, sau khi bán 09 gói ma tuý cho Hoàng Quốc Đ, T đã điều khiển xe mô tô đến thành phố T và gửi xe mô tô rồi đón xe khách đến tỉnh Lào Cai để làm thuê. Đến ngày 15/6/2024, T đi xe khách từ tỉnh Lào Cai về tỉnh Thái Nguyên và thuê nhà nghỉ ở. Buổi sáng ngày 17/6/2024 T điều khiển xe mô tô một mình đến khu vực chợ Đ2, thành phố T tìm mua ma tuý. Tại đây, T đã mua của một người đàn ông lạ mặt 01 gói ma tuý với giá 2.500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T mang về nhà nghỉ ở thành phố T mà T đã thuê trước đó. Tại đây, T lấy một phần ma tuý ra để sử dụng cho bản thân, số ma tuý còn lại T chia thành nhiều gói nhỏ để vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long (loại vỏ bao dạng hộp làm bằng kim loại) và cất vào chiếc ba lô giả da màu nâu rồi đi về thị trấn Đ, huyện V để bán số ma túy này. Khi đến khu vực cầu S thuộc tổ dân phố số A, thị trấn Đ, T đã bán 01 gói ma tuý cho Lục Hải S, sinh năm 1993, trú tại: tổ dân phố số B, thị trấn Đ, huyện V 01 gói với giá 200.000 đồng.

Đến buổi sáng ngày 18/6/2024, T một mình đến khu vực cổng phụ Nhà máy Công ty Z thuộc xóm L, xã L, huyện V để bán ma túy. Tại đây, T đã bán cho Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1992, trú tại: xóm L, xã L, huyện V 02 gói ma tuý với giá 400.000 đồng. Đến sáng ngày 19/6/2024, T một mình đến khu vực Cổng cụm công nghiệp T thuộc xóm T, xã L, huyện V để bán ma túy. Tại đây, T đã bán cho Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1992, trú tại: xóm L, xã L, huyện V 02 gói ma tuý với giá 200.000 đồng.

Buổi sáng ngày 20/6/2024, T đi đến khu vực chợ Đ2, thành phố T để tìm mua ma tuý. Tại đây, T đã mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với giá 3.500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T điều khiển xe mô tô quay về huyện Đ và lấy một phần ma tuý ra sử dụng cho bản thân. Sau đó, T đã chia số ma tuý thành nhiều gói nhỏ cho vào 2 túi nilon (một túi đựng 19 gói ma túy và một túi đựng 24 gói ma túy). Số ma tuý còn lại T gói vào mảnh nilon màu đen buộc dây cao su màu xanh. Sau đó T để toàn bộ số ma tuý trên vào 01 hộp kim loại rồi cất vào trong chiếc ba lô giả da màu nâu rồi đi về huyện V, mục đích để bán kiếm lời. Khi T đi đến đoạn đường thuộc xóm X, xã L, huyện V thì bị Tổ công tác Công an huyện V kiểm tra, phát hiện bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng.

Ngày 04/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T, tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng và lấy mẫu gửi giám định chất ma túy đối với số chất màu trắng dạng cục thu giữ của Hoàng Quốc Đ xác định được khối lượng là 0,828 gam, đã niêm phong số chất trên vào phong bì ký hiệu A làm mẫu gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 693/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất màu trắng dạng cục trong phong bì biêm phong ký hiệu A là chất ma túy loại Heroine, khối lượng là 0,828 gam.

Ngày 20/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T, tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng và lấy mẫu gửi giám định đối với số chất màu trắng thu giữ của Lộc Đình T xác định được như sau:

- Chất màu trắng dạng cục, bột niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 (là 19 gói chất màu trắng dạng cục, bột do T tự giác giao nộp), có khối lượng 1,682 gam. Lấy toàn bộ niêm phong vào phong bì ký hiệu M1 để làm mẫu vật gửi giám định.

- Chất màu trắng dạng cục, bột niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 (là 24 gói chất màu trắng dạng cục, bột do T tự giác giao nộp), có khối lượng 2,072 gam. Lấy toàn bộ niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 để làm mẫu vật gửi giám định.

- Chất màu trắng dạng cục niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 (là gói nilon màu đen được buộc dây cao su màu xanh do T tự giác giao nộp) có khối lượng 3,700 gam. Lấy toàn bộ niêm phong vào phong bì ký hiệu M3 để làm mẫu vật gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 746/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì niêm phong ký hiệu M1, M2, M3 là chất ma túy, loại Heroine. Khối lượng mẫu M1, M2 là 3,754 gam, khối lượng mẫu M3 là 3,700 gam. Tổng khối lượng là 7,454 gam.

Vật chứng của vụ án:

  • + Số tiền 290.000 đồng tiền Ngân hàng N1;
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong có 1,653 gam mẫu M1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M1.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2 bên trong có 1,966 gam mẫu M2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M2.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu M3 bên trong có 3,601 gam mẫu M3 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M3.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu V bên trong có 01 hộp kim loại nhãn hiệu Thăng Long kích thước (09x8,5x1,6)cm; 02 túi nilon màu trắng (loại túi zip), 01 mảnh nilon màu đen; 01 dây cao su màu xanh; 43 mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 chiếc cân điện tử màu đen; 01 hộp giấy màu xanh in chữ “DIGITAL SCALE"; 02 mảnh giấy bạc; 01 lưỡi dao lam.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu T bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đỏ, được lắp sim số 0988.234.282, gắn ốp nhựa màu trắng.
  • + 01 chiếc ba lô giả da màu nâu, mặt lưng là vải màu đen kích thước 41x30x19,5cm.
  • + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn đỏ - đen, gắn biển kiểm soát: 20D1-040.30 cùng 02 chiếc chìa khoá xe mô tô của xe.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu A bên trong có 0,804 gam mẫu A còn lại sau giám định và vỏ bao gói A.
  • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 01 túi nilon trong suốt, 09 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.

Cáo trạng số 43/CT-VKSVN ngày 22/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Lộc Đình T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Hoàng Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

Tuyên bố bị cáo Lộc Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Hoàng Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lộc Đình T từ 09 đến 10 năm tù. Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo T số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng;

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Quốc Đ từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy: 07 bì niêm phong ký hiệu M1, M2, M3, V, A2, A, B; 01 chiếc ba lô giả da màu nâu, mặt lưng là vải màu đen.
  • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 290.000 đồng thu giữ của Lộc Đình T.
  • + Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đỏ thu giữ của Lộc Đình T để đảm bảo thi hành án cho bị cáo T.
  • + Truy thu của bị cáo Lộc Đình T số tiền 2.510.000 đồng là tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có.
  • + Trả lại cho chị Hoàng Thị Minh T2: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn đỏ - đen, gắn biển kiểm soát: 20D1-040.30 cùng 02 chiếc chìa khoá xe mô tô của xe.

- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

- Hồi 11 giờ 25 phút ngày 04/6/2024, tại khu vực xóm Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Quốc Đ đã có hành vi tàng trữ 0,828 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã T, huyện V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Nguồn gốc số ma túy của Đ là do Đ mua của Lộc Đình T.

- Trong thời gian từ ngày 04/6/2024 đến ngày 19/6/2024 Lộc Đình T đã nhiều lần bán ma túy loại Heroine cho Hoàng Quốc Đ, Nguyễn Văn Đ1 và Lục Hải S; cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 04/6/2024, Lộc Đình T đã bán cho Hoàng Quốc Đ 09 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,828 gam với giá 1.800.000 đồng.
  • Lần 2: Ngày 17/6/2024, Lộc Đình T bán cho Lục Hải S 01 gói ma túy loại Heroine giá 200.000 đồng.
  • Lần 3: Ngày 18/6/2024, Lộc Đình T bán cho Nguyễn Văn Đ1 02 gói ma túy loại Heroine giá 400.000 đồng.
  • Lần 4: Ngày 19/6/2024, Lộc Đình T bán cho Nguyễn Văn Đ1 02 gói ma túy loại Heroine giá 400.000 đồng.

Vào hồi 15 giờ 40 phút ngày 20/6/2024, tại khu vực xóm X, xã L, huyện V, L bị Tổ công tác Công an huyện V bắt quả tang khi đang cất giấu 7,454 gam ma túy loại Heroine, mục đích để bán cho người nghiện ma tuý để kiếm lời.

[3] Lời khai của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Hoàng Quốc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Lộc Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Điều 251 Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a)...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

i) Heroine ... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”...

[4] Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy: bị cáo Lộc Đình T không có tiền án tiền sự, nhân thân tốt; bị cáo Hoàng Quốc Đ nhân thân từng 01 lần bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bố đẻ bị cáo Đ là ông Hoàng Văn T3 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, được Bộ trưởng Bộ Q tặng Bằng khen nên bị cáo Đ được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo: xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo Đ là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời; xác minh tại nơi cư trú của bị cáo xác định bị cáo hiện đang sống cùng gia đình, không có tài sản gì riêng có giá trị, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.

Bị cáo Lộc Đình T tàng trữ ma túy để bán và đã bán kiếm lời, đã được hưởng lợi, gia đình bị cáo không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử phạt bổ sung đối với bị cáo T một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về vật chứng của vụ án:

07 bì niêm phong ký hiệu M1, M2, M3, V, A2, A, B; 01 chiếc ba lô giả da màu nâu, mặt lưng là vải màu đen là các vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Số tiền 290.000 đồng thu giữ của Lộc Đình T là tiền bị cáo bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đỏ thu giữ của Lộc Đình T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo T.

Bị cáo T bán ma túy cho bị cáo Đ, Lục Hải S, Nguyễn Văn Đ1 được tổng cộng số tiền 2.800.000 đồng, trong đó có số tiền 290.000 đồng đã thu giữ được, cần truy thu của bị cáo T số tiền 2.510.000 đồng là tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có.

01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn đỏ - đen, gắn biển kiểm soát: 20D1-040.30 cùng 02 chiếc chìa khoá của xe, xác định là tài sản riêng của chị Hoàng Thị Minh T2 - vợ của bị cáo T cho bị cáo T mượn để sử dụng, chị T2 không biết việc bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử cho nhận lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại nên cần trả lại cho chị Hoàng Thị Minh T2.

[9] Về các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Lộc Đình T, quá trình điều tra bị cáo khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ Đ2, thành phố T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có cơ sở để xác minh làm rõ, xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

- Đối với Lục Hải S, Nguyễn Văn Đ1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an huyện V đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính là phù hợp quy định pháp luật.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lộc Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Hoàng Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • - Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lộc Đình T 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.
    • Phạt bổ sung bị cáo T số tiền 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2024.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.
  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong có 1,653 gam mẫu M1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M1.
      • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2 bên trong có 1,966 gam mẫu M2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M2.
      • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu M3 bên trong có 3,601 gam mẫu M3 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M3.
      • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu A bên trong có 0,804 gam mẫu A còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu A.
      • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 01 túi nilon trong suốt, 09 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng một mặt màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1.
      • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu V bên trong có 01 hộp kim loại nhãn hiệu Thăng Long kích thước (09x8,5x1,6)cm; 02 túi nilon màu trắng (loại túi zip), 01 mảnh nilon màu đen; 01 dây cao su màu xanh; 43 mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1.
      • + 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 chiếc cân điện tử màu đen; 01 hộp giấy màu xanh in chữ “DIGITAL SCALE"; 02 mảnh giấy bạc; 01 lưỡi dao lam.
      • + 01 chiếc ba lô giả da màu nâu, mặt lưng là vải màu đen kích thước 41x30x19,5cm.
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 290.000 đồng thu giữ của Lộc Đình T.
    • Tạm giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu đỏ đã cũ, có ốp nhựa màu trắng được chứa trong 01 phong bì niêm phong ký hiệu T, để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lộc Đình T.
    • Trả lại cho chị Hoàng Thị Minh T2 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn đỏ - đen, gắn biển kiểm soát: 20D1-040.30 cùng 02 chiếc chìa khoá của xe.
    • Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 01 ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai, ủy nhiệm chi số 9 ngày 27/9/2024.
    • Truy thu của bị cáo Lộc Đình T số tiền 2.510.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lộc Đình T và Hoàng Quốc Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger