Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-PT.

Ngày 19 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Hồng Thắng.

Các Thẩm phán: Ông Ma Ngọc Trung và ông Triệu Ngọc Thức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Trần Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Tiến D do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Họ và tên bị cáo: Vũ Tiến D, sinh ngày 17/10/1982 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ đảng, đoàn thể: Không; Con ông Vũ Tiến B (đã chết) và bà Đoàn Thị T; có vợ là Bế Thị Kim O, sinh năm 1987 và có 02 con với vợ trước đã ly hôn. Tiền án, tiền sự: Không. (Có mặt).

- Bị hại:Đàm Thị H, sinh năm 1975; trú tại: Thôn Q, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/4/2024, Vũ Tiến D sau khi đi uống rượu về, D đi bộ qua trước cửa nhà bà Đàm Thị H, sinh năm 1975, trú cùng thôn Q, xã T. D thấy nhà bà H mở cửa, đèn điện bật sáng, trong nhà không có người. Do buồn đi vệ sinh (tiểu tiện) nên D đi vào phòng vệ sinh nhà bà H. Sau khi vệ sinh xong, D thấy bà H mặc quần đùi, áo phông ngắn tay đang đứng quay mặt vào chuồng lợn (lưng quay về phía D), tay cầm vòi nước xịt rửa chuồng lợn nên D nảy sinh ý định quan hệ giao cấu với bà H.

D đi đến cách bà H khoảng 02m thì bà H phát hiện nói “Mẹ cái thằng này, tao giật cả mình, mày đi ra ngoài đi để tạo làm việc” rồi tiếp tục xịt rửa chuồng lợn. D tiếp tục đi đến phía sau bà H và dùng hai tay ôm bà H từ phía sau lưng vòng qua bụng. D dùng tay trái giữ ghì hai tay bà H và đưa tay phải sờ, bóp vào ngực (vú) phải của bà H. Bà H giãy giụa, D tiếp tục vật lộn bà H, dùng tay trái giữ ghì hai tay của bà H. Sau đó D đưa tay phải luồn vào bên trong quần của bà H từ phía sau qua mông sờ vào bộ phận sinh dục (âm hộ) của bà H để kích thích, mục đích để giao cấu.

Bà H hoảng sợ ngồi xổm xuống và gọi con gái là cháu Đinh Thị Gia H1, sinh năm 2013 “Hân ơi, H1 ơi mày chạy ra đây lấy dao băm vào mặt nó cho tao”. Lúc này, tay trái D vẫn giữ ghì hai tay bà H, tay phải D vẫn để trong quần của bà H thì cháu H1 đi ra cầm theo 01 chiếc kéo bằng kim loại. D thấy cháu H1 đi đến thì buông bà H ra. Bà H lấy dép đập vào vùng mặt D và dùng vòi xịt nước vào người D thì D đi về nhà.

Tại Kết luận giám định pháp y về tình dục số 82/2024/KLKNTD-TTPY ngày 25/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T: Trên cơ thể Vũ Tiến D tại thời điểm giám định không có thương tích gì. Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Bộ phận sinh dục với kích thước, khả năng cương cứng như trên là bình thường và có khả năng quan hệ giao cấu. Tại thời điểm giám định Vũ Tiến D không bị nhiễm HIV.

Tại Kết luận giám định số 592/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T kết luận: Trong USB gửi giám định có tệp tin có tên: "IMG 0152.mp4"; mã MD5: A5B4CAC2FB379F43BD7EB9669592BD66, ghi lại hình ảnh vụ việc xảy ra khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/4/2024. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chính sửa nội dung trong tệp video trên. Đặc điểm về người, đồ vật, diễn biến vụ việc được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo gồm 20 trang A4. Ảnh 22 người nam vòng tay trái của mình ra phía trước vùng ngực người nữ. Ảnh 23 người nam tiếp tục dùng hai tay ôm, kéo từ phía sau người nữ về phía mình. Ảnh 24 + 25 người nam ôm từ phía sau người nữ đồng thời đưa tay trái xuống vùng phía dưới bụng người nữ. Người nữ co người, đồng thời có hành động dùng tay trái của mình cầm vào tay trái của người nam. Ảnh 28 + 29 người nữ có hành động ngồi xổm xuống nền, người nam tiếp tục ôm, đè lên người. phụ nữ từ phía sau.

Quá trình điều tra, truy tố, Vũ Tiến D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản, sơ đồ, bản ảnh xác định hiện trường, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ, thu giữ: 01 USB màu tím (Đàm Thị H giao nộp); 01 kéo bằng kim loại, dài 22,9cm, phần lưỡi kéo dài 11,9cm, bản rộng nhất của lưỡi kéo là 02cm; chuôi kéo được bọc nhựa cao su màu đỏ, bản rộng nhất 11cm (Đinh Gia H1 giao nộp).

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đàm Thị H không yêu cầu bồi thường. Ngày 31/7/2024, Vũ Tiến D đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện S để bồi thường cho bà H.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tiến D phạm tội “Hiếp dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Tiến D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/8/2024).

Giao bị cáo Vũ Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/9/2024, bị hại Đàm Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị tăng nặng trách nhiệm hình sự và buộc bị cáo phải chấp hành án phạt tù.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Đảm bảo đúng pháp luật; đơn kháng cáo của bị hại là hợp lệ trong hạn luật định.

Về nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Tiến D 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo là đúng người, đúng tội, tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, bị hại không xuất trình được chứng cứ mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện S về phần hình phạt của bị cáo.

Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị hại giữ nguyên ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tăng nặng trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo án tù giam.

Bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục kháng cáo của bị hại là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/4/2024, Vũ Tiến D, sinh năm 1982, trú tại thôn Q, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi ôm, sờ vào ngực (vú) và bộ phận sinh dục (âm hộ) của bà Đàm Thị H, sinh năm 1975, trú cùng thôn Q, xã T nhằm mục đích quan hệ giao cấu. Do bà H không đồng ý, giãy giụa nên D đã vật lộn, dùng tay trái giữ ghì hai tay của bà H, dùng tay phải luồn vào bên trong quần của bà H từ phía sau qua mông sờ vào bộ phận sinh dục (âm hộ) của bà H để kích thích, mục đích để giao cấu. Bà H gọi cháu Đinh Thị Gia H1, sinh năm 2013 (con bà H) đến thì D buông bà H ra. Việc D chưa thực hiện được hành vi quan hệ giao cấu với bà H là ngoài ý muốn của D.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, tinh thần của bị hại, gây dư luận xấu ở địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện, khách quan các chứng cứ, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Vũ Tiến D về tội Hiếp dâm là có căn cứ đúng người, đúng tội, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3]. Xét kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét thấy bị cáo hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục hậu quả; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Vũ Tiến D 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện sự nghiêm khắc, đủ để giáo dục bị cáo và phù hợp với pháp luật nên không có căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự và chuyển sang hình phạt tù giam có thời hạn đối với bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị hại không xuất trình được tình tiết mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại, cần giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4]. Về án phí: Bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị hại; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang về phần hình phạt đối với bị cáo như sau:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Vũ Tiến D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Hiếp dâm”, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/8/2024).

Giao bị cáo Vũ Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 19/11/2024./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh TQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TQ;
  • - TAND huyện S, tỉnh TQ;
  • - VKSND huyện S, tỉnh TQ;
  • - Công an huyện S, tỉnh TQ;
  • - Chi cục THADS huyện S;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Văn phòng TAND tỉnh;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ma Hồng Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội hiếp dâm

  • Số bản án: 42/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Hiếp dâm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội Hiếp dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger