Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/HS-ST

Ngày: 05 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Hữu Tình.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Xuân Vinh và ông Nguyễn Duy Phú.

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 22/10/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 20/10/2003 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Viết T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Anh T1, sinh ngày 02/10/2004 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn A và bà Hoàng Thị T2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2

- Bị hại: Chị Phạm Thị L1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

+ Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

+ Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 22/6/2024, khi đang ngồi chơi tại nhà của Hoàng Anh T1 tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì Nguyễn Tuấn L đã hỏi mượn T1 500.000 đồng nhưng T1 không có. Sau đó, T1 nói “Có mấy cái đèn Led ngoài xảng (Thuyền nhỏ) đắt tiền, túi bạn ưng mần chi mần” (Tức là T1 đã chỉ cho L chỗ lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài). Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, L hẹn T1 đi trộm cắp tài sản. Sau khi đồng ý, T1 vào nhà lấy 01 con dao bằng kim loại, phần lưỡi dao dài 17 cm, phần cán dao bằng gỗ dài 12 cm nhằm mục đích để cắt các sợi dây điện, lấy trộm bóng đèn mà T1 đã chỉ trước đó cho L, rồi cùng L đi bộ đến khu vực có tài sản. Tại khu vực bờ sông thuộc tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, L và T1 thấy có 01 chiếc thuyền nhỏ, sơn màu xanh thuộc sở hữu của gia đình chị Phạm Thị L1 đang neo đậu, ở trên đó có gắn 10 bộ bóng đèn Led. Cả hai quan sát xung quanh không có người nên đã lén lút đột nhập lên thuyền. Tại đây, T1 sử dụng con dao cắt hệ thống dây điện nối với bộ B và cắt dây dùng để cố định các bộ bóng đèn rồi lần lượt lấy từng bóng đèn ra khỏi giàn điện đưa cho L. Sau khi lấy được 03 bộ bóng đèn thì L vào thay T1 để tiếp tục dùng dao cắt dây tháo bóng đèn ra khỏi giàn điện. Quá trình L và T1 thay nhau đã cắt và lấy trộm được 10 bộ bóng đèn Led. Sau đó, L và T1 đem toàn bộ số bóng đèn trộm cắp được cất giấu ở bụi cây gần nhà của T1 rồi hẹn nhau ngày hôm sau cả hai sẽ đến lấy đưa đi tiêu thụ.

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/6/2024, T1 lấy xe mô tô biển kiểm soát 73K1 - 088.19 giao cho L điều khiển chở T1 mang theo 03 bao tải lác màu vàng đi đến vị trí đã cất giấu tài sản trộm cắp trước đó rồi lấy 02 bộ bóng đèn L2 bỏ vào bao tải lác màu vàng đi tìm nơi tiêu thụ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, L và T1 đến đại lý mua bán ngư lưới cũ “Trịnh Phượng” tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã

3

B, tỉnh Quảng Bình. Tại đây, L gặp chủ đại lý là anh Nguyễn Thanh T3 và hỏi bán bóng đèn Led. Lúc đầu, anh T3 vẫn nghi ngờ đây là tài sản trộm cắp được mà có nên không mua, tuy nhiên sau đó do L và T1 một mực khẳng định là tài sản của mình nên anh T3 đã đồng ý mua. Sau khi thoả thuận xong, L và T1 về lại vị trí cất giấu tài sản trộm được để lấy 08 bộ bóng đèn L2 còn lại bỏ vào 02 bao tải lác màu vàng rồi đem tất cả đến bán cho anh T3. Anh T3 đã đồng ý mua 10 bộ B trên với giá 7.400.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên L và T1 cùng nhau sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL - HĐĐGTS ngày 15/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã B đã xác định:

  • 08 bộ bóng đèn Led, nhãn hiệu “Rạng Đông”, công suất 300W, hình hộp chữ nhật bằng kim loại, mặt trước làm bằng kính trong suốt, bên trong mỗi bộ đèn gắn 03 bóng đèn chiếu sáng, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị các bị cáo chiếm đoạt là 8.400.000 đồng (Mỗi bộ có giá trị là 1.050.000 đồng).
  • 02 bộ B, loại “Led 1:1:1”, công suất 500W, hình hộp chữ nhật bằng kim loại, mặt trước làm bằng kính trong suốt, bên trong mỗi bộ đèn gắn 05 bóng đèn chiếu sáng, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị các bị cáo chiếm đoạt là 2.300.000 đồng (Mỗi bộ có giá trị là 1.150.000 đồng).

Như vậy, theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã B, thì tổng trị giá tài sản của bị hại tại thời điểm bị các bị cáo chiếm đoạt là 10.700.000 đồng.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tạm giữ và giao trả cho chủ sở hữu là chị Phạm Thị L1 08 bộ B, nhãn hiệu “Rạng Đông”; 02 bộ B, loại “Led 1:1:1”. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B còn tạm giữ: 01 con dao bằng kim loại, phần lưỡi dao dài 17 cm, phần cán dao bằng gỗ dài 12 cm, trên lưỡi dao có khắc dòng chữ “KIWI - BRAND”, đã qua sử dụng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, sơn màu đen vàng, biển kiểm soát 73K1 - 088.19, số khung 0610GY189777, số máy G3D4E202681, đã qua sử dụng. Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 73K1 - 088.19, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã xác minh làm rõ chiếc xe mô tô này có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu là của anh Hoàng Hữu C (Anh trai ruột của bị cáo Hoàng Anh T1), tuy nhiên do hiện anh C đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nên đã giao quyền nhận lại tài sản, quyền quản lý và sử dụng chiếc xe mô tô này cho mẹ đẻ là bà Hoàng Thị T2; vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã giao trả chiếc xe mô tô biển kiểm soát 73K1 - 088.19 cho người nhận là bà Hoàng Thị T2. Đối với 01 con dao mà các bị

4

cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, tuy con dao này thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị T2 nhưng do con dao có giá trị không lớn nên bà T2 không có nhu cầu nhận lại.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại chị Phạm Thị L1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm và yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng để chị thuê người sửa chữa, lắp đặt lại hệ thống bóng đèn Led trên thuyền. Các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường đủ số tiền trên cho chị L1. Đồng thời, các bị cáo còn thoả thuận hoàn trả lại cho anh Nguyễn Thanh T3 số tiền 7.400.000 đồng. Các bên đều đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, cam kết không khiếu kiện, khiếu nại hay yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 39/CT-VKSBĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn L và Hoàng Anh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn L và Hoàng Anh T1, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Tuấn L và Hoàng Anh T1, mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt kể từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an Thị xã B, tỉnh Quảng Bình nhận được Quyết định thi hành án. Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo; Về vật chứng của vụ án, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 01 con dao, phần lưỡi dao dài 17 cm, phần cán dao dài 12 cm do đây là vật chứng mà các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội và có giá trị không lớn, chủ sở hữu không có nhu cầu nhận lại.

Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng

5

về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tuấn L và Hoàng Anh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện: Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị L1, các bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản là 10 bộ bóng đèn Led. Tổng trị giá tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của bị hại tại thời điểm mất trộm là 10.700.000 đồng. Như vậy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là hoàn toàn thống nhất, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được tại hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ. Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: các bị cáo Nguyễn Tuấn L và Hoàng Anh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân và gây mất trật tự trị an trong địa bàn. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng lại lười lao động và muốn kiếm tiền dựa vào việc chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Điều này cho thấy các bị cáo có ý thức xem thường pháp luật, xem thường tài sản của người khác. Vì vậy, cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử lý nghiêm nhằm mục đích răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đối với các bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét vai trò của các bị cáo:

Trong vụ án này có hai bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo L tuy là người đã khởi xướng việc thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị cáo T1 lại là người gợi ý địa điểm có tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp. Bị cáo T1 là người đã chuẩn bị công cụ và phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã luân phiên nhau một cách rất tích cực, thể hiện qua việc các bị cáo đã thay nhau cắt dây điện và lấy trộm được 10 bộ bóng đèn Led trên thuyền của chị L1. Sau khi lấy được tài sản, các bị cáo đều đã cùng nhau đưa tài sản đi tiêu thụ và cùng nhau tiêu xài cá nhân trên số tiền tiêu thụ được tài sản đã trộm cắp. Qua đó thể hiện vai trò của các bị cáo trong vụ án này là tương đương

6

nhau, cùng thực hiện hành vi và cùng hưởng lợi ích vật chất từ chính hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương đương nhau đối với hai bị cáo.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho bị hại. Mặt khác, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đối với bị cáo L đã có thời gian cống hiến phục vụ trong quân đội. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng:

Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên chưa cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn để cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương là cũng đã đủ nghiêm và phù hợp với chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.

[7] Liên quan trong vụ án có anh Nguyễn Thanh T3 là người đã mua lại 10 bộ bóng đèn Led do các bị cáo trộm cắp mà có. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định, khi đồng ý nhận mua tài sản trên từ các bị cáo thì anh T3 hoàn toàn không biết tài sản đó do trộm cắp mà có nên hành vi của anh T3 không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, việc bị cáo T1 tự ý sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 73K1 - 088.19 của anh Hoàng Hữu C làm phương tiện để đi tiêu thụ tài sản trộm cắp thì anh C không hề hay biết nên không xác định anh C là đồng phạm trong vụ án này.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt đã được thu giữ và kịp thời giao trả cho bị hại. Trong giai đoạn điều tra, các bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường đầy đủ thiệt hại mà các bị cáo đã gây ra cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Sự thoả thuận đó giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được ghi nhận. Sau khi nhận lại tài sản bị mất, tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

7

đến vụ án không có yêu cầu gì thêm. Như vậy phần trách nhiệm dân sự trong vụ án đã thực hiện xong, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tạm giữ và giao trả tài sản cho chủ sở hữu là chị Phạm Thị L1 10 bộ B; trả lại cho người quản lý và sử dụng là chị Hoàng Thị T2 01 xe mô tô biển kiểm soát 73K1 - 088.19. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với vật chứng là 01 con dao bằng kim loại, phần lưỡi dao dài 17 cm, phần cán dao dài 12 cm, do đây là vật chứng các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, chủ sở hữu không có yêu cầu nhận lại và cũng không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn L và Hoàng Anh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn L 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.

Xử phạt bị cáo Hoàng Anh T1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với hai bị cáo, kể từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an hình sự thị xã B, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Nguyễn Tuấn L và Hoàng Anh T1 cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục hai bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

8

Miễn khấu trừ thu nhập đối với hai bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao. Hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, có các đặc điểm được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã B với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn ngày 11 tháng 10 năm 2024.

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Tuấn L và Hoàng Anh T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Đối với người có mặt) hoặc trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật (Đối với người vắng mặt).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Công an thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - UBND phường Quảng Phong
  • - THA phạt tù;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 42/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn Linh cùng đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger