|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2024/HS-ST Ngày 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Khắc Quyết
Bà Hoàng Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố số I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN Đ, sinh ngày 31 tháng 12 năm 1997 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn N, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị L, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/6/2024, đến ngày 04/7/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Ngô Quang Đ1; vắng mặt không lý do, đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn Đ nghiện ma túy từ năm 2013. Đ mượn xe Mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX, màu nâu, Biển kiểm soát 16P2-2629 của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Thôn E, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng là Mợ của Đ từ năm 2022 để đi làm hàng ngày. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, Đ điều khiển xe mô tô nêu trên đi từ nhà đến khu vực đường T, gần Bệnh viện H1, quận L, thành phố Hải Phòng gặp một người đàn ông không quen biết, Đ mua 01 túi nilon chứa ma túy “Đá” giá 1.000.000 đồng. Sau khi nhận được ma túy, Đ cất giấu ma túy vào cạp quần đang mặc, điều khiển xe mô tô nêu trên đi đến chỗ làm tại Nhà hàng B thuộc khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô nêu trên đi đổ xăng ở cây xăng tại ngã 3 giao nhau giữa đường C với đường C. Sau đó, đi đến khu vực trước cửa số nhà F, đường Ấ, tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng thì bị Tổ công tác của Công an quận Đ thấy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Đ có hành vi cất giấu 01 túi nilon dạng túi zip, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy. Đ khai nhận 01 túi nilon bị thu giữ bên trong có chứa ma túy “Đá”, mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân, không còn mục đích nào khác, nên Đ bị tạm giữ cùng vật chứng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở hiện tại của Nguyễn Văn Đ tại thôn N, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, dạng túi Zip, có mép viền màu đỏ, kích thước (02 x 02) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng theo Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 27/6/2024 của Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng; khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì giấy, có dấu niêm phong số 855MT/PC09 ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, có chữ ký của những người có liên quan đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn quản lý; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX, màu nâu, Biển kiểm soát 16P2-2629 theo Quyết định tạm giữ tài sản số 418/QĐCSHS-KT-MT ngày 28/6/2024 của Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng: Qua xác minh, đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp - chị Nguyễn Thị T theo Biên bản giao, nhận ngày 22/9/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng.
Tại Kết luận giám định số: 855/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 1,76 gam, loại: Methamphetamine”.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Đ khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường tàu Trần Nguyên H gần Bệnh viện H1, quận L, thành phố Hải Phòng. Ngoài lời khai của Đ, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lý lịch, địa chỉ của người bán ma túy để Đ mua, nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSĐS ngày 04/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, các tình tiết khác có liên quan như nội dung vụ án đã nêu và khai: Bị cáo làm nghề nấu bếp thuê cho Nhà hàng, thu nhập chỉ đủ chi tiêu cá nhân. Gia đình bị cáo không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, không thuộc diện gia đình chính sách. Nên không được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề xuất với Hội đồng xét xử về loại hình phạt, mức hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác trong vụ án như sau:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn Đ từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2024.
- - Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu huỷ: Khối lượng ma tuý còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 855MT/PC09 ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan.
-
- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đ tại khu vực đường tàu gần Bệnh viện H1, quận L, thành phố Hải Phòng, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để điều tra.
Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.1] Đối với người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Tuy nhiên, đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh, điều luật áp dụng:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định ma tuý, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do nghiện ma túy nên khoảng 21 giờ 00 phút ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại khu vực trước của nhà số F đường Á, tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 1,76 gam ma túy, loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 855/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H) để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác thì bị phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung:
[3] Với hành vi nêu trên của bị cáo, xác định: Bị cáo có hành vi “Tàng trữ trái phép 1,76 gam Methamphetamine” nên phải chịu tình tiết định khung “..., M, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[6] Về hình phạt chính: Từ những phân tích về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, trật tự an toàn xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân bị cáo, kinh tế gia đình của bị cáo, còn là nguyên nhân có thể làm phát sinh loại tội phạm khác. Xác định loại hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy, cần bắt bị cáo phải tiếp tục cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, do bị cáo làm lao động tự do, thu nhập chỉ đủ chi tiêu cá nhân, không có tài sản riêng có giá trị, không có nguồn thu nào khác. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, không phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ, được chấp nhận. Nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
- Về các biện pháp tư pháp:
[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: Khối lượng ma tuý còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 855MT/PC09 ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan.
- Các vấn đề khác:
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Đối với người đàn ông đã bán ma túy để Đ mua tại khu vực đường tàu gần Bệnh viện H1, quận L, thành phố Hải Phòng. Ngoài lời khai của Đ, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lý lịch, địa chỉ của người bán ma túy để Đ mua, nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ. Vì vậy, không đặt ra xem xét.
[12] Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16P2-2629 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T (là mợ của Đ); chị T cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận Đ đã trả lại xe chị T là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 27/6/2024.
- - Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo.
-
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chất ma túy sau giám định cùng vỏ bao gói, dấu niêm phong số 855MT/PC09 ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
-
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoàng |
Bản án số 42/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 42/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy
