Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2024/KDTM-ST

Ngày: 28-10-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán

hàng hoá"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Tam;

2/ Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2024/TLST- KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 231/QÐST-KDTM ngày 07 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH C

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Duy H, sinh năm: 1981 – Chức vụ Chủ tịch hội đồng thành viên.

Địa chỉ: F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Sỹ H1, sinh năm 1981.

Địa chỉ: A, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Đinh Huy T, sinh năm: 1965.

Địa chỉ: Số C, tầng trệt, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(ông H1 có mặt, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn do ông Nguyễn Sỹ H1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty TNHH C1 là công ty chuyên sản xuất, gia công khung bàn ghế nhôm. Ông Đinh Huy T là khách hàng quen thuộc của công ty C1 từ khoảng năm 2019, ông T đặt hàng công ty C1 để sản xuất khung bàn ghế nhôm. Việc mua bán giữa hai bên đã được thực hiện nhiều lần, không có hợp đồng cụ thể mà chỉ thỏa thuận bằng miệng, ông T liên hệ trực tiếp đến cửa hàng mua hàng và đặt hàng, sau đó công ty sẽ sản xuất và giao hàng cho ông T như yêu cầu. Việc thanh toán được thực hiện theo đợt và có nợ gối đầu một đợt, tức là ông T mua đợt mới thì sẽ được nợ gối đầu đợt cũ.

Công ty TNHH C1 không có mối quan hệ làm ăn nào với công ty TNHH N. Công ty C1 chỉ thỏa thuận làm ăn trực tiếp với ông Đinh Huy T với tư cách cá nhân ông T. Việc ông T mua hàng hóa về cho công ty N1 không thì công ty không được rõ. Cụ thể tại văn bản xác nhận nợ ngày 28/11/2022, ông Đinh Huy T với tư cách cá nhân mình đã ký giấy xác nhận nợ với Công ty TNHH C.

Theo văn bản xác nhận nợ ngày 28/11/2022, hai bên chốt lại công nợ và ký với nhau giấy xác nhận nợ. Theo đó ông Đinh Huy T thừa nhận còn nợ lại Công ty C1 285.127.225 đồng tiền gốc, ông T cam kết, sẽ thanh toán mỗi tháng một lần khoảng 30.000.000 đến 50.000.000 đồng cho công ty vào ngày 05 đến 10 tây hàng tháng cho đến khi hoàn thành hết số nợ, về lãi suất hàng tháng là 1%. Tuy nhiên từ khi ký giấy xác nhận nợ, ông T chỉ trả được tiền gốc thêm 04 đợt với số tiền là 70.000.000 đồng và không trả thêm nữa.

Nay công ty TNHH C1 yêu cầu ông Đinh Huy T phải trả cho công ty số tiền nợ gốc còn lại là 215.127.225 đồng, và lãi suất 1%/1 tháng từ ngày 28/12/2022 đến khi tòa xét xử vụ án trên số tiền gốc còn nợ (tạm tính đến ngày 28/10/2024) là 49.479.261 đồng). Tổng số tiền ông Đinh Huy T phải thanh toán cho công ty TNHH C1 là 264.606.486 đồng.

Ý kiến của bị đơn: Ông Đinh Huy T trình bày tại văn bản ngày 07/6/2024:

Công ty TNHH N có đặt mua bên công ty TNHH C1 nhiều hợp đồng khung bàn ghế bằng nhôm, đã có những hợp đồng được thanh toán xong còn một hợp đồng cuối cùng còn nợ lại một phần chưa thanh toán. Do chiến tranh và dịch bệnh nên công việc làm ăn của công ty gặp khó khăn, ông đang cố gắng làm để có tiền trả nợ và không có ý trốn tránh nghĩa vụ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C2 bị đơn ông Đinh Huy T Nay công ty TNHH C1 yêu cầu ông Đinh Huy T phải trả cho công ty số tiền nợ gốc còn lại là 215.127.225 đồng, và lãi suất 1%/1 tháng từ ngày 28/12/2022 đến khi tòa xét xử vụ án trên số tiền gốc còn nợ (tạm tính đến ngày 28/10/2024) là 49.479.261 đồng). Tổng số tiền ông Đinh Huy T phải thanh toán cho công ty TNHH C1 là 264.606.486 đồng là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tỏa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Công ty TNHH C1 (gọi tắt là Công ty C1) khởi kiện yêu cầu ông Đinh Huy T yêu cầu thanh toán số tiền mua hàng là 264.606.486 đồng theo văn bản xác nhận nợ ngày 28/11/2022. Như vậy, xác định quan hệ pháp luật là: "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa".

Theo biên bản xác minh ngày 28/8/2024, Công an phường T cung cấp thông tin ông Đinh Huy T không đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương, tuy nhiên ông T hiện đang sinh sống tại địa chỉ Số C, tổ G, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Đinh Huy T. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên không xem xét.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng công ty TNHH C1 yêu cầu ông Đinh Huy T phải trả cho công ty số tiền nợ gốc còn lại là 215.127.225 đồng, và lãi suất 1%/1 tháng từ ngày 28/12/2022 đến khi tòa xét xử vụ án trên số tiền gốc còn nợ (tạm tính đến ngày 28/10/2024) là 49.479.261 đồng). Tổng số tiền ông Đinh Huy T phải thanh toán cho công ty TNHH C1 là 264.606.486 đồng.

[3.1] Đối với yêu cầu trả nợ gốc: Theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện, nguyên đơn Công ty TNHH C1 và ông Đinh Huy T có quan hệ mua bán hàng hóa với nhau. Việc mua bán giữa hai bên đã được thực hiện nhiều lần, không có hợp đồng cụ thể mà chỉ thỏa thuận bằng miệng, ông T đặt hàng công ty C1 để sản xuất khung bàn ghế nhôm. Ông T liên hệ trực tiếp đến cửa hàng mua hàng và đặt hàng, sau đó công ty sẽ sản xuất và giao hàng cho ông T như yêu cầu. Ông T thực hiện thanh toán theo đợt và có nợ gối đầu một đợt, tức là ông T mua đợt mới thì sẽ được nợ gối đầu đợt cũ.

Ông Đinh Huy T thừa nhận có quan hệ mua bán với công ty TNHH C1 và hiện còn nợ công ty C1 tiền mua hàng hóa, nhưng là ông T mua giúp cho công ty N2 không phải mua cho cá nhân ông T. Nguyên đơn không thừa nhận việc có mua bán hàng hóa với công ty N mà chỉ có quan hệ mua bán trực tiếp với ông Đinh Huy T. Cụ thể tại văn bản xác nhận nợ ngày 28/11/2022, ông T đã xác nhận khoản nợ với tư cách là cá nhân ông T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu ông Đinh Huy T cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh việc mua hàng là mua giúp công ty N3 phải mua hàng cho cá nhân ông T, tuy nhiên ông T không cung cấp được tài liệu chứng cứ như yêu cầu. Do đó trình bày của ông T là không có cơ sở chấp nhận.

Xét văn bản xác nhận nợ ngày 28/11/2022, ông Đinh Huy T thừa nhận còn nợ lại Công ty C1 285.127.225 đồng tiền gốc, ông T cam kết, sẽ thanh toán mỗi tháng một lần khoảng 30.000.000 đến 50.000.000 đồng cho công ty C1 vào ngày 05 đến 10 tây hàng tháng cho đến khi hoàn thành hết số nợ, về lãi suất hàng tháng là 1%. Tuy nhiên ông T chỉ trả được tiền gốc thêm 04 đợt với số tiền là 70.000.000 đồng và không trả thêm nữa. Ông Đinh Huy T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty TNHH C Do đó yêu cầu của công ty TNHH C2 ông Đinh Huy T phải trả cho công ty số tiền nợ gốc còn lại là 215.127.225 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lãi theo thỏa thuận của 2 bên: Xét văn bản xác nhận nợ ngày 28/11/2022, ông Đinh Huy T cam kết sẽ trả cho Công ty C1 tiền lãi với mức lãi suất hàng tháng là 1%, như vậy lãi suất đã được hai bên thỏa thuận cụ thể trong văn bản xác nhận nợ, không trái với quy định của pháp luật và phù hợp với Điều 306 Luật Thương mại năm 2005. Do đó yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lãi suất 1%/1 tháng từ ngày 28/12/2022 đến khi tòa xét xử vụ án trên số tiền gốc còn nợ (đến ngày 28/10/2024 là 49.479.261 đồng) là có cơ sở chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền ông Đinh Huy T phải thanh toán cho công ty TNHH C1 là 264.606.486 đồng. Trong đó; Nợ gốc: 215.127.225 đồng; Nợ lãi tính đến ngày 28/10/2024 là: 49.479.261 đồng.

[4]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Bị đơn phải chịu số tiền án phí là 13.230.324 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 351, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 19, Điều 306 Luật Thương mại 2005;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạm vi phạm;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH C1 đối với bị đơn ông Đinh Huy T về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa".
  2. Buộc ông Đinh Huy T phải thanh toán cho công ty TNHH C1 là 264.606.486 (hai trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm lẻ sáu ngàn bốn trăm tám mươi sáu) đồng. Trong đó; Nợ gốc: 215.127.225 đồng; Nợ lãi là: 49.479.261 đồng.
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả.
  4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Ông Đinh Huy T phải chịu án phí là 13.230.324 đồng (mười ba triệu hai trăm ba mươi ngàn ba trăm hai mươi bốn đồng). Hoàn trả cho Công ty TNHH C1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.863.685 đồng (năm triệu tám trăm sáu mươi ba ngàn sáu trăm tám lăm đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0003201 theo biên lai thu ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
  5. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tổng đạt hợp lệ. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự (2);
  • - VKSND TP Biên Hòa (2);
  • - THADS TP Biên Hòa (1);
  • - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2024/KDTM-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

  • Số bản án: 42/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Đại Phú Gia yêu cầu Đinh Huy Tinh thanh toán tiền mua hàng còn thiếu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger